Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Sàng lọc dị tật bẩm sinh

Gần đây, trên các báo có đưa tin về một trường hợp bé sinh ra bị dị tật phát triển ở xương mặt, được chẩn đoán là hội chứng Treacher Collinskhiến gia đình bức xúc, quy kết trách nhiệm cho bác sĩ siêu âm bởi tin như thế có thể dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc trong cộng đồng.

Bài viết này nhằm giúp bạn đọc hiểu được vai trò cũng như khả năng của các biện pháp dò tìm hay còn gọi là sàng lọc và xác định, chẩn đoán sớm các dị tật bẩm sinh.

Dị tật bẩm sinh

Dị tật hay khuyết tật bẩm sinh là những khiếm khuyết của cơ thể trẻ mắc phải khi thụ thai mà có thể cho tới khi sinh ra mới nhận biết được. Các dị tật đó có thể ảnh hưởng đến một hay nhiều bộ phận của cơ thể, mà bị ảnh hưởng đến diện mạo hay chức năng tùy thuộc vào bộ phận bị tổn thương.

Dị tật bẩm sinh này có thể được xếp vào các nhóm gồm rối loạn nhiễm sắc thể, di truyền hoặc nhóm do tiếp xúc với các tác nhân gây hại như nhiễm trùng hoặc hóa chất, thuốc men.

Một số các dị tật bẩm sinh có yếu tố nguy cơ rõ rệt. Thí dụ như các chứng rối loạn nhiễm sắc thể như Down (ba nhiễm sắc thể 21), hội chứng Patau (ba nhiễm sắc thể 13) hoặc Edwards (ba nhiễm sắc thể 18) có liên quan mật thiết đến tuổi của người mẹ - tuổi càng cao, nguy cơ càng cao.

Trong khi đó một số các bệnh di truyền, nếu một thành viên trực hệ trong gia đình mắc phải thì nguy cơ cho trẻ mắc cũng sẽ tăng lên, nặng hơn cả là khi bố mẹ mang gien di truyền, có con đã từng mắc bệnh di truyền.

Dò tìm và xác định dị tật bẩm sinh

Có rất nhiều loại dị tật di truyền cũng như nhiễm sắc thể và các khiếm khuyết các bộ phận trong cơ thể không liên quan đến di truyền đối với một trẻ mới sinh ra.

Do đó việc tìm kiếm cũng như xác định được các thương tổn đó sớm ngay trong thời kỳ thai nghén có thể giúp cho các bà mẹ và gia đình của họ có thể có quyết định sớm là giữ hay không giữ bào thai đó. Tuy nhiên điều khó khăn là ở chỗ không thể có cách nào để có thể dò tìm và xác định được tất cả các dị tật bẩm sinh đó trong thời kỳ thai nghén cả, kể cả ở các nước có nền y học tân tiến nhất thế giới.

Cho tới hiện nay, việc tiến hành các phương thức dò tìm và xác định các dị tật bẩm sinh chủ yếu tập trung vào ba dạng.

Thứ nhất là các xét nghiệm cho người có mang gien bệnh. Xét nghiệm này có thể tiến hành trước hoặc trong khi mang thai. Thí dụ như bệnh thiếu máu Thalassemia. Nếu người mẹ có mang gien này, thì người chồng cũng nên xét nghiệm. Nếu cả hai đều mang gien thì xác suất cho đứa bé sinh ra mắc bệnh Thalassemia thể nặng sẽ là 25% (do bệnh di truyền thể lặn), tương tự như bệnh cystic fibrosis.

Thứ hai là xét nghiệm dò tìm hay còn gọi là sàng lọc. Có nghĩa là sử dụng các xét nghiệm để sàng lọc xem người mẹ mang thai nào có nguy cơ cao đối với một số bệnh.

Cuối cùng, dựa trên những đối tượng có nguy cơ cao, các xét nghiệm chẩn đoán được tiến hành.

Câu hỏi đặt ra là hiện nay có dò tìm được bao nhiêu loại bệnh hay khuyết tật của thai trong thời kỳ mang thai? Bạn sẽ phải thất vọng, vì thực tế, cho đến hiện nay chỉ có thể sàng lọc ra được 3 chứng rối loạn nhiễm sắc thể là hội chứng Down, Patau và Edwards đã nêu trên và khuyết tật của ống thần kinh tủy sống.

Thế nhưng độ chính xác của các xét nghiệm sàng lọc này lại cũng không phải là lý tưởng. Nếu xét nghiệm tiến hành đúng lúc, kết hợp cả xét nghiệm máu và siêu âm, trong giai đoạn đầu thai nghén, độ chính xác chỉ đạt được 80% đến 90%. Hay nói cách khác, các xét nghiệm này vẫn bỏ sót từ 10% đến 20% các trường hợp.

Trong trường hợp kết hợp xét nghiệm sàng lọc tăng cường cả giai đoạn đầu và giữa thai kỳ, thì độ chính xác cho các hội chứng Down, Edwards và khuyết tật ống thần kinh tăng lên 94 - 96%.

Bạn cần nên hiểu rõ thêm điều này, độ chính xác của các xét nghiệm sàng lọc không nói lên sự chính xác xác định bệnh mà chỉ nói lên mức độ chính xác nhận dạng ra các bà mẹ có nguy cơ cao mang thai có khả năng bị khuyết tật mà thôi. Ví dụ về bệnh Down, xác suất cho một người mẹ bất kỳ khi mang thai có khả năng con bị Down tại Úc là 1/1.200.

Nguy cơ này tăng dần theo tuổi. Thí dụ cho tới tuổi 35, nguy cơ này là 1/400 tức là tăng gấp 3 lần. Còn các xét nghiệm sàng lọc xác định bà mẹ có nguy cơ cao là ở ngưỡng 1/250. Có nghĩa là trong số 250 bà mẹ có xét nghiệm dương tính (nguy cơ cao) đó, sẽ có 1 bà mẹ sinh ra con mắc bệnh Down.

Chỉ có các bà mẹ được xác định là có nguy cơ cao rồi thì mới được đề nghị tiến hành làm xét nghiệm xác định chẩn đoán. Cho tới nay, cũng chỉ có hai xét nghiệm chẩn đoán được coi là tiêu chuẩn vàng để xác định được một số tối thiểu các bệnh dị tật bẩm sinh kể trên, đó là sinh thiết màng ngoài phôi tiến hành trong thời kỳ đầu và chọc lấy nước ối trong thời kỳ giữa.

Gọi là xét nghiệm chẩn đoán, nhưng độ chính xác của hai xét nghiệm này cũng không phải tuyệt đối. Độ sai sót là 1-2%. Có nghĩa là sau khi đã dùng biện pháp để xác định rồi thì trong 100 bà mẹ đó vẫn bị sót 1 đến 2 trường hợp, bẩm sinh ra bị dị tật bẩm sinh. Đó là chưa kể nguy cơ bị sẩy thai, 1% cho xét nghiệm sinh thiết màng phôi và 0,5% cho chọc ối.

Siêu âm trong thai nghén

Cho tới hiện nay, với một người mẹ bình thường, khỏe mạnh, có nguy cơ thấp trong thai nghén thì chỉ có 3 lần làm siêu âm. Trong các lần siêu âm đó cũng có phần để sàng lọc các dị tật thai nhi chủ yếu và thường gặp. Lần siêu âm thứ nhất thường vào khoảng tuần thứ 8 thai kỳ. Lần siêu âm thứ hai vào giữa 11 đến 13 tuần thai và lần thứ ba tiến hành giữa 18-20 tuần thai. Chỉ các trường hợp có nguy cơ cao và có nghi ngờ trong lần siêu âm thứ ba thì có thể thêm các lần siêu âm vào các tuần 22 - 24, 30 - 34 hoặc các tuần cận sinh.

Vài nét về trường hợp hội chứng Treacher Collins

Trở lại trường hợp bệnh nhi ở Pleiku mới đây, được chẩn đoán mắc hội chứng Treacher Collins sau khi sinh thì đó là một bệnh hiếm và hy hữu. Đây là một bệnh di truyền thể lặn hiếm gặp, tại Mỹ tỷ lệ gặp là 1/50.000. Trong vòng 5 năm qua, Mỹ gặp chỉ có 21 trường hợp. Bệnh này rối loạn chủ yếu cấu trúc xương hàm mặt, đi kèm theo nhiều biến chứng khác. Cho tới nay đa số các dị tật Treacher Collins là do đột biến gien, và rất hiếm khi phát hiện được trong thai kỳ.

Đối với các dị tật bẩm sinh hiếm gặp hiện nay không có phương thức nào có thể phát hiện sớm hữu hiệu trừ khi trong gia đình có con đã bị mắc bệnh thì trong lần mang thai tới sẽ được khám xét cẩn thận hơn, nhưng không có nghĩa là có khả năng phát hiện sớm.

Khám thai định kỳ, làm các xét nghiệm thai nghén định kỳ để giúp cho các bà mẹ có được một cuộc thai nghén và chuyển dạ thuận lợi và thai nhi phát triển tốt trong thai kỳ.

Một số các xét nghiệm sàng lọc và xác định chẩn đoán giúp phát hiện sớm một số ít các dị tật thai nhi chứ không thể nào phát hiện được tất cả các loại dị tật bẩm sinh. Và siêu âm trong thai nghén chỉ là một công cụ hỗ trợ tìm kiếm nguy cơ chứ không có khả năng gì trong xác định chẩn đoán và nó không phải là chiếc đũa thần.

BS Nguyễn Đình Nguyên - Theo Thanh Niên
Bình luận
Tin mới
  • 29/01/2026

    Bí kíp lựa chọn thực phẩm Tết an toàn và chất lượng

    Thời điểm này, nguồn cung hàng hóa, thực phẩm Tết hiện khá dồi dào để người tiêu dùng cân nhắc, lựa chọn các mặt hàng phù hợp với nhu cầu của bản thân và gia đình mình. Tất nhiên, tiêu chí chất lượng và an toàn vẫn được đặt lên hàng đầu.

  • 29/01/2026

    Vi khuẩn Bacillus cereus – Thủ phạm gây độc trong các lon sữa

    Bacillus cereus (B. cereus) là một vi sinh vật tiết ra các độc tố có hại, đây cũng chính là thủ phạm gây ra ngộ độc trong các sản phẩm thực phẩm không đạt chuẩn trên thị trường hiện nay, bao gồm một số loại sữa, cơm nguội và các món ăn khác. Bằng cách tiết ra một loại độc tố tên là Cereulide, nó có thể gây ngộ độc thực phẩm với các triệu chứng như tiêu chảy, nôn mửa. Tuy nhiên đấy không phải là tất cả, B. cereus có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn và nguy hiểm đến tính mạng con người. Cùng tìm hiểu về vi khuẩn B. cereus qua bài viết sau đây!

  • 28/01/2026

    Vụ 500 tấn hóa chất natri silicate ngâm ốc bươu, người ăn như 'bỏng hóa học'

    Sau vụ cơ quan chức năng ở TPHCM triệt phá đường dây dùng 500 tấn natri silicate sơ chế 3.000 tấn thịt ốc bươu trước khi đưa ra thị trường, nhiều người lo lắng về mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe khi lỡ ăn phải loại thực phẩm này.

  • 28/01/2026

    Nhu cầu dinh dưỡng đặc thù ở người bệnh ung thư gan

    Do đặc điểm bệnh lý ung thư gan liên quan trực tiếp đến chức năng gan – cơ quan chuyển hóa trung tâm – bệnh nhân ung thư gan có nhu cầu dinh dưỡng khác biệt so với người khỏe mạnh, đồng thời thay đổi tùy theo giai đoạn bệnh và tình trạng dinh dưỡng hiện tại…

  • 28/01/2026

    Hiểm họa từ thực phẩm ngâm "thủy tinh lỏng" Natri Silicate

    Thời gian gần đây, natri silicate bị lợi dụng nhờ đặc tính tạo màng và giữ nước để bảo quản thực phẩm. Khi ngâm thực phẩm vào dung dịch này, hóa chất thẩm thấu giúp tăng trọng lượng ảo, làm nguyên liệu trương nước và tạo vẻ ngoài bóng bẩy, tươi mới.

  • 28/01/2026

    Hen phế quản: Kiểm soát cơn hen, thở dễ dàng hơn

    Hen phế quản là một bệnh lý hô hấp mạn tính phổ biến, gây ra tình trạng viêm và co thắt đường thở, dẫn đến các triệu chứng như khó thở, khò khè, ho và cảm giác nặng ngực. Mặc dù không thể chữa khỏi hoàn toàn, nhưng với sự hiểu biết đúng đắn và các biện pháp kiểm soát hiệu quả, người bệnh có thể sống khỏe mạnh và giảm thiểu nguy cơ xảy ra các cơn hen cấp tính. Bài viết này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về cách nhận biết, xử lý và kiểm soát hen phế quản.

  • 27/01/2026

    5 vị thuốc giúp ngủ ngon trong mùa đông

    Khi thời tiết lạnh, dương khí dễ bị tổn thương, huyết mạch lưu thông kém, tinh thần khó an định, từ đó sinh ra mất ngủ. Việc sử dụng các vị thuốc y học cổ truyền một cách hợp lý cũng là một cách hỗ trợ cải thiện giấc ngủ hiệu quả, an toàn.

  • 27/01/2026

    Những điều cần biết về virus Nipah

    Nipah là loại virus có tỷ lệ gây tử vong cao, chưa có vaccine và thuốc để điều trị. Virus Nipah được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm tác nhân gây bệnh nguy cơ cao.

Xem thêm