Phương tây nghĩ gì về y học cổ truyền Trung Hoa?
Thuốc cổ truyền Trung Quốc (ở nước ta gọi là thuốc bắc) là phương pháp chữa bệnh có nguồn gốc từ Trung Quốc hàng ngàn năm trước. Các bác sỹ sẽ sử dụng thảo mộc, chế độ ăn, châm cứu, giác hơi và khí công để ngăn ngừa hoặc điều trị các vấn đề sức khoẻ. Mặc dù nó vẫn được thực hiện ở nhiều cơ sở y tế của Trung Quốc cùng với y học hiện đại, ở Hoa Kỳ, y học cổ truyền Trung Quốc được coi là một hình thức y học thay thế.
Nguyên lý y học cổ truyền Trung Quốc
Đạo giáo được coi là nền tảng của nền y học cổ truyền của người Trung quốc. Theo Đạo giáo, tất cả các cơ quan của cơ thể đều hỗ trợ lẫn nhau. Vì vậy, để khỏe mạnh, cơ quan của một người (và các chức năng của chúng) phải đạt được sự cân bằng thông qua sự hài hòa âm – dương (hai năng lượng đối nghịch nhưng bổ sung cho nhau có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của chúng ta)
Một thuyết khác trong y học cổ truyền Trung Quốc là năng lượng tối cần thiết (được gọi là "khí") chảy khắp cơ thể thông qua một số đường dẫn (hay "đường kinh"). Theo thuyết này, bệnh tật và các vấn đề về sức khoẻ tình cảm, tinh thần và thể chất khác phát triển khi dòng khí bị tắc, yếu hoặc quá mức. Khôi phục dòng khí được coi là cần thiết để cân bằng âm dương và, lần lượt, đạt được sự khỏe mạnh.

Định nghĩa bệnh trong y học cổ truyền
Một lương y sẽ đánh giá sức khoẻ tổng thể của bạn bằng cách hỏi tiền sử về sức khoẻ, xem lưỡi, bắt mạch và khám, xác định bất kỳ sự mất cân bằng hoặc tắc nghẽn dòng khí nào. Nếu bác sĩ xác định sự mất cân bằng trong hệ thống cơ quan trong cơ thể bạn, điều đó không có nghĩa là bạn bị bệnh ở cơ quan đó.
Ví dụ, gan, giúp điều chỉnh dòng chảy chảy của khí. Nếu một người bị "trì trệ gan" thì năng lượng sẽ bị khóa, dẫn đến khó chịu, tức giận, hoặc trầm cảm, vị đắng trong miệng, khó tiêu, và mạch trầm. Hoặc như "suy thận âm" có liên quan đến miệng khô, nóng vào buổi chiều hoặc buổi tối, ù tai, và đãng trí. Lưỡi thường có màu đỏ với ít hoặc không có lớp rêu lưỡi, mạch phù.
Tại sao người ta sử dụng y học cổ truyền Trung Quốc?
Đến nay, các nhà khoa học phương Tây vẫn thiếu những bằng chứng để chứng minh tác dụng của y học cổ truyền Trung Quốc trong điều trị các bệnh cụ thể. Tuy nhiên, trong thực tế, y học cổ truyền Trung Quốc được sử dụng để giải quyết các tình trạng bệnh sau:
Mặc dù các lương y ngày nay sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán trong y học hiện đại nhưng điều trị sẽ phụ thuộc vào sự mất cân bằng các cơ quan trong cơ thể. Ví dụ, một người bị chứng mất ngủ có thể gặp khó khăn khi ngủ vì sự mất cân bằng chẳng hạn như suy thận âm, ứ khì tỳ, hoặc kém hoạt huyết.
Phương pháp điều trị được sử dụng là gì?
Có rất nhiều phương pháp trị liệu khác nhau được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc, phổ biến nhất là châm cứu. Vì y học cổ truyền Trung Quốc nhấn mạnh việc điều trị cá nhân, các phương pháp chữa bệnh rất khác nhau giữa các bệnh nhân. Những phương pháp này thường bao gồm:
Châm cứu: Mặc dù nguồn gốc của châm cứu bắt nguồn từ y học occr truyền Trung Quốc, nhưng ngày nay nó được y học phương Tây sử dụng khá nhiều để điều trị cho một loạt các vấn đề về sức khoẻ.

Bấm huyết: sử dụng ap lực ngón tay để ấn trên các huyệt đạo và kinh mạch.
Điều trị giác hơi
Chế độ ăn uống và dinh dưỡng: Thực phẩm được cho là có đặc tính làm nóng / mát và được cho là có đặc tính chữa bệnh cụ thể.
Thuốc thảo dược: được kê theo toa để sắc uống hoặc dùng dưới nhiều dạng khác
Phép cứu bằng ngải: thủ thuật bao gồm việc đốt một loại thảo mộc gần da để làm ấm khu vực trên các huyệt châm cứu.
Xoa bóp: một loại tập luyện cơ thể kết hợp massage và bấm huyệt.
Các bài tập như thái cực quyền và khí công
Kết luận
Đối với một số người, y học cổ truyền Trung Quốc có thể đưa ra một quan điểm độc đáo về các yếu tố lối sống có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của bạn. Có ít thử nghiệm lâm sàng chất lượng cao cho thấy y học cổ truyền có thể điều trị bệnh, do đó điều quan trọng là không tự điều trị hoặc sử dụng thay thế cho những điều trị y học hiện đại. Nếu bạn đang cân nhắc việc thử nó, hãy tìm một bác sĩ có chuyên môn và tham khảo ý kiến bác sĩ để cân nhắc những ưu và khuyết điểm của liệu pháp và thảo luận xem nó có phù hợp với bạn hay không.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Kết hợp lý luận y học hiện đại với y học cổ truyền trong bấm huyệt
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!