Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Phòng tránh rau bong non trong thai kỳ

Rau bong non là thuật ngữ sử dụng khi một phần hoặc toàn bộ nhau thai bong ra bất ngờ từ tử cung sau tuần thứ 20 của thai kỳ.

Tình trạng rau bong non nặng là một yếu tố nguy cơ chính gây thai chết lưu hoặc sinh non. Tình trạng này xảy ra với khoảng 1% tổng số ca mang thai, phổ biến nhất là trong 3 tháng cuối thai kỳ.

Dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu của tình trạng rau bong non có thể bao gồm chảy máu âm đạo, cứng hoặc đau ở vùng bụng và các cơn co thắt tử cung thường xuyên. Tất cả các trường hợp chảy máu âm đạo trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ cần được thông báo đến bác sĩ. Rau bong non không phải lúc nào cũng gây ra chảy máu âm đạo, vì vậy bạn nên tham khảo ý kiến bác sỹ nếu bạn nghi ngờ mình bị rau bong non.

Yếu tố nguy cơ và nguyên nhân

Chấn thương vùng bụng vào cuối thai kỳ và nhiễm trùng trong tử cung có thể gây ra tình trạng rau bong non, nhưng tình trạng này cũng có thể xảy ra mà không có sự cảnh báo. Các yếu tố nguy cơ đã biết gây ra tình trạng rau bong non bao gồm:

  • Hút thuốc
  • Sử dụng cocaine trong khi mang thai
  • Trên 35 tuổi
  • Mang đa thai
  • Tăng huyết áp
  • Có một rối loạn đông máu như hội chứng antiphospholipid
  • Có tiền sử rau bong non ở những lần mang thai trước
  • Vỡ ối sớm

Điều trị rau bong non

Trong hầu hết các trường hợp rau bong non, nhau thai chỉ tách biệt một phần khỏi tử cung thay vì tách biệt hoàn toàn. Khi phần trăm bánh rau lớn hơn bị bong ra, nguy cơ rau bong non sẽ cao hơn so với việc bánh rau chỉ bong một phần nhỏ. Tỷ lệ thai chết lưu sẽ tăng lên đáng kể trong các trường hợp rau bong non khi hơn 50% bánh nhau bị bong khỏi tử cung.

Khi một người phụ nữ có các triệu chứng của rau bong non, bác sĩ sẽ thường khám lâm sàng và siêu âm. Nếu các bác sĩ nghi ngờ rau bong non nghiêm trọng, cách điều trị thông thường là đình chỉ thai nghén bằng việc mổ lấy thai.

Thật không may, việc gây chuyển dạ không phải lúc nào cũng có nghĩa là em bé sống sót. Nếu rau bong non nặng xảy ra trước thời điểm em bé có thể sống được, chẳng hạn như trước 24 tuần, các bác sĩ có thể không cứu được em bé. Các bà mẹ bị rau bong non nặng có thể bị mất máu nặng, và những đứa trẻ sống sót sau khi sinh có thể phải đối mặt với các biến chứng do sinh non và thiếu oxy.

Khi rau bong non mức độ nhẹ đến trung bình và không gây nguy hiểm ngay lập tức cho người mẹ hoặc em bé, các bác sĩ có thể phải cho người mẹ nhập viện và cho nghỉ ngơi trên giường với sự giám sát chặt chẽ. Điều này có thể làm tăng tỷ lệ rằng em bé sẽ sống sót mà không có biến chứng về sức khỏe nghiêm trọng.

Đôi khi chảy máu sẽ ngừng và người phụ nữ sẽ có thể trở về nhà nghỉ ngơi trong thời gian còn lại của thai kì, nhưng một số người có thể cần phải ở lại bệnh viện. Nếu các bác sĩ muốn em bé được sinh trong khoảng từ 24 đến 34 tuần, bạn có thể sẽ được kê đơn corticosteroid để giúp phổi của em bé trưởng thành nhanh hơn để cải thiện tỷ lệ sống sót.

Những phụ nữ đã từng bị rau bong non thai trong các thai kỳ trước có thể được coi là có nguy cơ cao ở tất cả các thai kỳ trong tương lai, với khả năng tái phát là 10%.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những triệu chứng không nên bỏ qua khi mang thai

Bình luận
Tin mới
  • 06/02/2026

    Những xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán thiếu máu

    Có một số loại xét nghiệm máu có thể được sử dụng để chẩn đoán thiếu máu. Trong đó công thức máu toàn phần là xét nghiệm phổ biến nhất, các loại xét nghiệm khác tuy ít phổ biến hơn nhưng cũng có thể hữu ích trong việc giúp xác định nguyên nhân gây thiếu máu. Cùng tìm hiểu về những loại xét nghiệm này qua bài viết sau!

  • 05/02/2026

    Rượu bia - Kẻ thù thầm lặng phá hoại sức khỏe sinh lý nam giới

    Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2019 có tới 2,6 triệu ca tử vong do tiêu thụ rượu, trong đó 2 triệu ca là nam giới.

  • 05/02/2026

    Đăng ký tham gia tập huấn trực tuyến: Phòng chống tai nạn thương tích trong dịp Tết Nguyên đán

    Dịp Tết Nguyên đán là thời điểm gia tăng các hoạt động giao thương, đi lại và sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tai nạn thương tích (TNTT) trong đời sống hàng ngày.

  • 05/02/2026

    Phòng ngừa các bệnh do rượu bia mùa lễ hội: Uống có trách nhiệm

    Mùa lễ hội là dịp để mọi người quây quần, gặp gỡ và chia sẻ niềm vui bên những bữa tiệc. Tuy nhiên, việc tiêu thụ rượu bia không kiểm soát trong những sự kiện này có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe và an toàn. Từ các bệnh lý mạn tính như xơ gan, bệnh tim mạch đến những tai nạn giao thông đáng tiếc, tác hại rượu bia không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây tổn thất cho xã hội. Để tận hưởng mùa lễ hội một cách an toàn, việc uống rượu an toàn và phòng say xỉn là điều cần thiết. Hãy là người uống có trách nhiệm !

  • 04/02/2026

    Thực phẩm bẩn có thể gây ra những bệnh ung thư nào?

    Việc sử dụng thực phẩm bẩn trong thời gian dài làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư trong đó có ung thư dạ dày, đại tràng và ung thư vòm họng.

  • 04/02/2026

    Những điều cha mẹ cần biết về rối loạn tiêu hóa ở trẻ

    Mùa xuân là thời điểm trẻ nhỏ thường đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe đường ruột do sự thay đổi đột ngột trong chế độ ăn uống và sinh hoạt. Sự kết hợp giữa các bữa tiệc tùng dịp lễ Tết và điều kiện môi trường nồm ẩm đặc trưng của mùa xuân tạo cơ hội cho các tác nhân gây hại tấn công hệ tiêu hóa non nớt của trẻ. Để giúp phụ huynh có cái nhìn đầy đủ và chủ động bảo vệ sức khỏe cho con trẻ trong giai đoạn này, hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu nguyên nhân cũng như các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

  • 03/02/2026

    Không khí ô nhiễm tàn phá làn da như thế nào?

    Ô nhiễm không khí không chỉ ảnh hưởng đến phổi mà còn gây tổn hại sâu sắc cho làn da. Bụi mịn và khí độc có thể khiến da lão hóa sớm, viêm nhiễm và mất hàng rào bảo vệ tự nhiên.

  • 03/02/2026

    Vụ "hô biến" thịt hết hạn vào trường học: Quy trình an toàn đứt gãy ở đâu?

    TS.BS Trương Hồng Sơn nhận định, quy trình an toàn thực phẩm bị đứt gãy thường là kết quả của thiếu minh bạch, thiếu kiểm tra độc lập và thiếu hệ thống quản lý.

Xem thêm