Nguyên nhân
Bệnh giang mai phát triển khi vi khuẩn T. pallidum truyền từ người này sang người khác trong hoạt động tình dục.
Bệnh có thể truyền từ phụ nữ sang thai nhi trong khi mang thai hoặc trẻ sơ sinh trong khi sinh và được gọi là giang mai bẩm sinh.
Bịnh giang mai không thể lây lan thông qua việc tiếp xúc chung với các đồ vật, chẳng hạn như tay nắm cửa, dụng cụ ăn uống và bệ ngồi trong nhà vệ sinh.
Triệu chứng
Các bác sĩ phân loại giai đoạn của bệnh giang mai là nguyên phát, thứ phát, tiềm ẩn và giai đoạn cuối dựa vào các triệu chứng. Căn bệnh này có thể lây nhiễm trong giai đoạn nguyên phát và thứ phát, đôi khi là trong giai đoạn tiềm ẩn. Bệnh giang mai giai đoạn cuối không lây nhưng nó có các triệu chứng nghiêm trọng nhất.
Các triệu chứng chính
Các triệu chứng của bệnh giang mai nguyên phát bao gồm một hoặc nhiều vết loét hoặc vết loét hình tròn, không đau, cứng và tròn. Những biểu hiện này xuất hiện từ 10 ngày đến 3 tháng sau khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể. Các vết loét này sẽ hết trong vòng 2–6 tuần. Tuy nhiên, nếu không điều trị, bệnh có thể vẫn tồn tại trong cơ thể và tiến triển sang giai đoạn tiếp theo.
Các triệu chứng phụ
Các triệu chứng giang mai thứ phát bao gồm:
Các triệu chứng này có thể hết vài tuần sau khi chúng xuất hiện lần đầu. Chúng cũng có thể quay trở lại nhiều lần trong một thời gian dài hơn. Nếu không được điều trị, giang mai thứ phát có thể tiến triển sang giai đoạn tiềm ẩn và giai đoạn cấp ba.
Bệnh giang mai tiềm ẩn
Giai đoạn tiềm ẩn có thể kéo dài trong vài năm. Trong thời gian này, cơ thể sẽ ẩn chứa bệnh mà không có triệu chứng.
Tuy nhiên, vi khuẩn T. pallidum vẫn nằm im trong cơ thể, và luôn có nguy cơ tái phát. Các bác sĩ vẫn khuyên bạn nên điều trị bệnh giang mai ở giai đoạn này, ngay cả khi các triệu chứng không xảy ra. Sau giai đoạn tiềm ẩn, giang mai giai đoạn cuối có thể phát triển.
Giang mai giai đoạn cuối
Giang mai giai đoạn ba có thể xảy ra từ 10–30 năm
Ở giai đoạn này, bệnh giang mai làm tổn thương các cơ quan và hệ thống sau:
Tổn thương cơ quan có nghĩa là bệnh giang mai giai đoạn cuối thường có thể dẫn đến tử vong. Do đó, điều trị bệnh giang mai trước khi nó chuyển sang giai đoạn này là rất quan trọng.
Giang mai thần kinh
Giang mai thần kinh là một tình trạng phát triển khi vi khuẩn T. pallidum đã lây lan đến hệ thần kinh. Nó thường có liên quan đến bệnh giang mai tiềm ẩn và giang mai giai đoạn cuối. Tuy nhiên, nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào sau giai đoạn sơ cấp.
Bạn bị giang mai thần kinh có thể không có triệu chứng trong một thời gian dài. Ngoài ra, các triệu chứng có thể phát triển dần dần.
Các triệu chứng bao gồm
Giang mai bẩm sinh
Bệnh giang mai bẩm sinh rất nặng và thường xuyên đe dọa đến tính mạng. Vi khuẩn T. pallidum có thể truyền từ phụ nữ mang thai sang thai nhi qua nhau thai và trong quá trình sinh nở. Dữ liệu cho thấy rằng nếu không được sàng lọc và điều trị, khoảng 70% phụ nữ mắc bệnh giang mai sẽ có kết quả bất lợi trong việc mang thai.
Các kết quả bất lợi bao gồm thai nhi chết sớm hoặc sinh non hoặc nhẹ cân, và nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh.
Các triệu chứng ở trẻ sơ sinh bao gồm:
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể gặp phải:

Điều trị
Điều trị bệnh giang mai có thể thành công, đặc biệt là trong giai đoạn đầu. Chiến lược điều trị sẽ phụ thuộc vào các triệu chứng và thời gian bạn đã chứa vi khuẩn. Tuy nhiên, trong giai đoạn sơ cấp, thứ cấp hoặc giai đoạn cuối, những người mắc bệnh giang mai thường sẽ được tiêm bắp penicillin G benzathine. Bệnh giang mai giai đoạn tiềm ẩn sẽ cần tiêm nhiều mũi cách nhau hàng tuần. Bệnh giang mai thần kinh cần dùng penicillin tiêm tĩnh mạch 4 giờ một lần trong 2 tuần để loại bỏ vi khuẩn khỏi hệ thần kinh trung ương. Việc chữa khỏi nhiễm trùng sẽ ngăn ngừa tổn thương thêm cho cơ thể và các hoạt động tình dục an toàn có thể được tiếp tục. Tuy nhiên, điều trị giang mai không thể phục hồi được những tổn thương mà bệnh đã gây ra với cơ thể. Những người bị dị ứng với penicillin đôi khi có thể sử dụng một loại thuốc thay thế trong giai đoạn đầu. Tuy nhiên, trong thời kỳ mang thai và ở giai đoạn cấp ba, bất kỳ ai bị dị ứng sẽ được giải mẫn cảm với penicillin để được điều trị an toàn. Sau khi sinh, trẻ sơ sinh mắc bệnh giang mai phải được điều trị bằng kháng sinh. Ớn lạnh, sốt, buồn nôn, đau nhức và đau đầu có thể xảy ra vào ngày đầu tiên điều trị. Các bác sĩ coi những triệu chứng này là phản ứng Jarisch-Herxheimer. Tuy nhiên, không nên vì những phản ứng này mà ngừng điều trị bệnh.
Khi nào là an toàn để quan hệ tình dục?
Những người mắc bệnh giang mai phải tránh quan hệ tình dục cho đến khi họ đã hoàn thành tất cả các điều trị và nhận được kết quả xét nghiệm máu xác nhận rằng bệnh đã khỏi. Có thể mất vài tháng để xét nghiệm máu cho thấy bệnh giang mai đã giảm ở mức độ thích hợp.
Kiểm tra và chẩn đoán
Bác sĩ sẽ khám sức khỏe và hỏi về tiền sử tình dục của bạn trước khi thực hiện các xét nghiệm lâm sàng để xác nhận bệnh giang mai.
Các bài kiểm tra bao gồm:
Nếu một người nhận được chẩn đoán mắc bệnh giang mai, họ phải thông báo cho bất kỳ bạn tình nào. Các đối tác của họ cũng nên tiến hành xét nghiệm.
Khi nào nên đến bệnh viện để xét nghiệm?
Nhiều người bị bệnh lây qua đường tình dục sẽ không biết về nó. Do đó, bạn nên nói chuyện với bác sĩ hoặc yêu cầu xét nghiệm trong những trường hợp sau:
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những điều cần biết về giang mai thần kinh
Sinh mổ là một can thiệp y khoa quan trọng và cần thiết trong nhiều trường hợp, giúp mẹ và bé vượt qua những tình huống đặc biệt trong hành trình vượt cạn. Tuy nhiên, trẻ sinh mổ có nguy cơ bị thiếu hụt nhiều yếu tố miễn dịch tự nhiên hơn so với trẻ sinh thường khiến con phải đối mặt với nhiều rủi ro về sức khoẻ.
Quercetin là một hợp chất tự nhiên thuộc nhóm flavonoid – có khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ, kháng viêm và điều hòa miễn dịch.
Mọi người mặc quần áo bó sát hoặc chật vì nhiều lý do, bao gồm sự thoải mái, thời trang hoặc để tăng sự tự tin. Tuy nhiên, khi mặc quần áo quá chật quá thường xuyên, nó có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe mà mọi người không hề hay biết.
Có một số loại xét nghiệm máu có thể được sử dụng để chẩn đoán thiếu máu. Trong đó công thức máu toàn phần là xét nghiệm phổ biến nhất, các loại xét nghiệm khác tuy ít phổ biến hơn nhưng cũng có thể hữu ích trong việc giúp xác định nguyên nhân gây thiếu máu. Cùng tìm hiểu về những loại xét nghiệm này qua bài viết sau!
Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2019 có tới 2,6 triệu ca tử vong do tiêu thụ rượu, trong đó 2 triệu ca là nam giới.
Dịp Tết Nguyên đán là thời điểm gia tăng các hoạt động giao thương, đi lại và sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tai nạn thương tích (TNTT) trong đời sống hàng ngày.
Mùa lễ hội là dịp để mọi người quây quần, gặp gỡ và chia sẻ niềm vui bên những bữa tiệc. Tuy nhiên, việc tiêu thụ rượu bia không kiểm soát trong những sự kiện này có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe và an toàn. Từ các bệnh lý mạn tính như xơ gan, bệnh tim mạch đến những tai nạn giao thông đáng tiếc, tác hại rượu bia không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây tổn thất cho xã hội. Để tận hưởng mùa lễ hội một cách an toàn, việc uống rượu an toàn và phòng say xỉn là điều cần thiết. Hãy là người uống có trách nhiệm !
Việc sử dụng thực phẩm bẩn trong thời gian dài làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư trong đó có ung thư dạ dày, đại tràng và ung thư vòm họng.