Những biến chứng nguy hiểm của bệnh máu nhiễm mỡ?
Hậu quả trực tiếp của rối loạn chuyển hóa lipid máu là biến chứng mạch máu gây xơ vữa động mạch dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm. Ngoài ra, rối loạn mỡ máu còn liên quan đến nhiều các rối loạn chuyển hóa khác.
Tăng cholesterol trong máu là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa và dần làm hẹp các động mạch cung cấp máu cho tim. Đặc biệt, khi cả cholesterol và triglyceride cùng gia tăng thì nguy cơ này cao hơn gấp nhiều lần và thúc đẩy nhanh hơn quá trình xơ vữa động mạch, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng gây thiếu máu cơ tim, nguy hiểm hơn là nhồi máu cơ tim. Có đến 90% trường hợp nhồi máu cơ tim là do biến chứng của mảng xơ vữa.
Cholesterol trong máu cao sẽ lắng đọng ở bề mặt nội mô và lớp cơ trơn, tạo nên những mảng xơ vữa, làm hẹp và tắc mạch máu. Ngoài ra, thành mạch cũng trở nên xơ cứng, nội mô thô nhám, dễ hình thành cục máu đông. Các nghiên cứu nhận thấy, người có lượng cholesterol trong máu cao có tỉ lệ mắc bệnh mạch vành (mạch máu nuôi tim) cao gấp 2 - 3 lần so với người bình thường. LDL trong máu cao tăng nguy cơ bị xơ vữa động mạch và dễ gây biến chứng. Ngược lại, HDL trong máu cao thì tỉ lệ xơ vữa động mạch thấp. Nếu làm giảm 1mg/dL LDL thì giảm được 2% tỉ lệ tử vong. Nếu mức HDL tăng 1%, thì sự nguy hiểm của bệnh tim mạch giảm 2 - 3%.

Có đến 90% trường hợp nhồi máu cơ tim là do biến chứng của mảng xơ vữa
Các dấu hiệu cảnh báo biến cố tim mạch:
- Đau thắt ngực hoặc cảm giác khó chịu vùng ngực: cảm giác như bị đè nặng, bóp nghẹt, đầy tức hoặc đau... kéo dài từ vài phút đến vài chục phút. Cơn đau thường xuất hiện khi gắng sức và giảm khi nghỉ.
- Cảm giác khó chịu ở những vị trí khác: có thể đau hoặc tức lan ra 1 hay 2 bên cánh tay, hướng ra sau lưng, lên cổ, hàm, thậm chí ở vùng dạ dày.
- Khó thở: có thể kèm hoặc không kèm với tức ngực.
- Các dấu hiệu khác: vã mồ hôi, buồn nôn hay đau đầu...
- Một số trường hợp đau không điển hình hoặc không đau: có thể gặp như mệt lả, khó thở, buồn nôn, nôn, đau lan ra sau lưng hay lên hàm...
Có đến 90% trường hợp nhồi máu cơ tim là do biến chứng của mảng xơ vữa.
Tăng mỡ máu gây nên các mảng xơ vữa, khiến lòng mạch hẹp lại, thành mạch kém đàn hồi làm tăng sức đề kháng lên lòng mạch máu. Để cung cấp đầy đủ nhu cầu máu, cơ thể có những đáp ứng như: tăng nhịp tim, tăng sức co bóp cơ tim, tăng hấp thu giữ nước trong cơ thể... dẫn đến cao huyết áp.
Bên cạnh đó, tăng mỡ máu còn làm tăng độ nhớt của máu. Đây cũng là một yếu tố góp phần làm cao huyết áp. Bản thân cao huyết áp lại làm tổn thương nội mô mạch máu, các LDL dư thừa trong máu bị oxy hóa dễ dàng xâm nhập và làm nặng hơn tình trạng xơ vữa. Cao huyết áp dễ dẫn đến các bệnh lý tim mạch nguy hiểm, suy thận, tổn thương động mạch mắt gây mù lòa, tai biến mạch máu não...
Rối loạn chuyển hóa lipid máu, đặc biệt ở người tăng cholesterol, khiến cho tinh thể cholesterol dễ lắng đọng trong thành mạch, hình thành mảng xơ vữa. Các mảng xơ vữa di chuyển từ nơi khác đến hoặc hình thành ngay tại mạch máu não sẽ làm hẹp lòng mạch, dẫn đến giảm lưu lượng tuần hoàn và gây thiếu máu não. Ở giai đoạn nặng hơn, dòng máu lên não có thể bị tắc nghẽn hoàn toàn và gây ra đột quỵ não (nhồi máu não). Rối loạn mỡ máu cùng với sự tổn thương nội mạc mạch máu do gốc tự do gây ra càng làm tăng nguy cơ bệnh lý mạch máu não. Thống kê cho thấy, khoảng 93% bệnh nhân đột quỵ não có rối loạn mỡ máu.
Gan nhiễm mỡ là khi có sự tích lũy của chất béo trong gan vượt quá 5% trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ thường không có triệu chứng rõ ràng, mặc dù nó trực tiếp gây suy giảm chức năng gan và làm xơ gan. Người bệnh có thể chỉ cảm thấy mệt mỏi và khó chịu ở vùng thượng vị và hạ sườn phải. Tình trạng gan nhiễm mỡ nặng có thể có biểu hiện vàng da, đau bụng, buồn nôn, ói mửa và gan to.
Tỉ lệ bệnh nhân gan nhiễm mỡ ngày càng gia tăng trên thế giới và cả Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy:
- 10 - 24% dân số bị gan nhiễm mỡ (nam nhiều hơn nữ).
- 40 là độ tuổi phổ biến mắc gan nhiễm mỡ.
- 50% bệnh nhân rối loạn mỡ máu phát hiện có gan nhiễm mỡ.
- 25% bệnh nhân gan nhiễm mỡ kèm viêm gan có thể dẫn đến xơ gan và tử vong.
Khi lượng cholesterol trong cơ thể gia tăng, nồng độ của chúng trong mật cao, nồng độ muối mật thấp, cùng với sự ứ đọng dịch mật, cholesterol sẽ bị kết tủa trong dịch mật hình thành sỏi mật. Sỏi mật có thể làm viêm túi mật, nguy cơ tắc ống dẫn mật, gây đau bụng, buồn nôn, sốt, vàng da...

Rối loạn chuyển hóa lipid máu làm tăng các chất béo tự do trong máu, làm chết hoặc rối loạn chức năng tế bào tụy, dẫn đến suy giảm bài tiết insulin, gây tăng đường huyết. Rối loạn mỡ máu kéo theo rối loạn chuyển hóa đường; đồng thời bệnh đái tháo đường lâu dần cũng sẽ gây ra rối loạn mỡ máu. Vì vậy, hai bệnh này có liên quan với nhau rất chặt chẽ.
Thống kê cho thấy, hầu hết bệnh nhân đái tháo đường có rối loạn mỡ máu. Phần lớn các tổn thương mạch máu trong bệnh đái tháo đường đều là hậu quả của việc rối loạn mỡ máu. Chính vì vậy, rối loạn mỡ máu trên bệnh nhân đái tháo đường nếu không được điều trị kịp thời sẽ làm cho biến chứng của bệnh đái tháo đường xuất hiện sớm và nặng lên rất nhiều, nhất là biến chứng về tim mạch.
Bệnh béo phì làm tăng nồng độ triglyceride và LDL-cholesterol, làm giảm nồng độ HDL-cholesterol trong máu.
Khoảng 90% số bệnh nhân béo phì, béo bụng gặp rối loạn chuyển hóa lipid máu. Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng hình thành và phát triển bệnh xơ vữa động mạch. Do đó, việc phát hiện sớm rối loạn mỡ máu ở bệnh nhân béo phì có thể giúp điều trị và dự phòng sớm những hậu quả do béo phì gây ra.
Bacillus cereus (B. cereus) là một vi sinh vật tiết ra các độc tố có hại, đây cũng chính là thủ phạm gây ra ngộ độc trong các sản phẩm thực phẩm không đạt chuẩn trên thị trường hiện nay, bao gồm một số loại sữa, cơm nguội và các món ăn khác. Bằng cách tiết ra một loại độc tố tên là Cereulide, nó có thể gây ngộ độc thực phẩm với các triệu chứng như tiêu chảy, nôn mửa. Tuy nhiên đấy không phải là tất cả, B. cereus có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn và nguy hiểm đến tính mạng con người. Cùng tìm hiểu về vi khuẩn B. cereus qua bài viết sau đây!
Sau vụ cơ quan chức năng ở TPHCM triệt phá đường dây dùng 500 tấn natri silicate sơ chế 3.000 tấn thịt ốc bươu trước khi đưa ra thị trường, nhiều người lo lắng về mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe khi lỡ ăn phải loại thực phẩm này.
Do đặc điểm bệnh lý ung thư gan liên quan trực tiếp đến chức năng gan – cơ quan chuyển hóa trung tâm – bệnh nhân ung thư gan có nhu cầu dinh dưỡng khác biệt so với người khỏe mạnh, đồng thời thay đổi tùy theo giai đoạn bệnh và tình trạng dinh dưỡng hiện tại…
Thời gian gần đây, natri silicate bị lợi dụng nhờ đặc tính tạo màng và giữ nước để bảo quản thực phẩm. Khi ngâm thực phẩm vào dung dịch này, hóa chất thẩm thấu giúp tăng trọng lượng ảo, làm nguyên liệu trương nước và tạo vẻ ngoài bóng bẩy, tươi mới.
Hen phế quản là một bệnh lý hô hấp mạn tính phổ biến, gây ra tình trạng viêm và co thắt đường thở, dẫn đến các triệu chứng như khó thở, khò khè, ho và cảm giác nặng ngực. Mặc dù không thể chữa khỏi hoàn toàn, nhưng với sự hiểu biết đúng đắn và các biện pháp kiểm soát hiệu quả, người bệnh có thể sống khỏe mạnh và giảm thiểu nguy cơ xảy ra các cơn hen cấp tính. Bài viết này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về cách nhận biết, xử lý và kiểm soát hen phế quản.
Khi thời tiết lạnh, dương khí dễ bị tổn thương, huyết mạch lưu thông kém, tinh thần khó an định, từ đó sinh ra mất ngủ. Việc sử dụng các vị thuốc y học cổ truyền một cách hợp lý cũng là một cách hỗ trợ cải thiện giấc ngủ hiệu quả, an toàn.
Nipah là loại virus có tỷ lệ gây tử vong cao, chưa có vaccine và thuốc để điều trị. Virus Nipah được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm tác nhân gây bệnh nguy cơ cao.
Vụ việc phát hiện ốc bươu được ngâm trong hóa chất công nghiệp natri silicate (thủy tinh lỏng) vừa bị cơ quan chức năng triệt phá đã làm dấy lên lo ngại lớn về an toàn thực phẩm. Natri silicate là chất gì, vì sao bị cấm trong chế biến thực phẩm và ăn phải có thể gây hại như thế nào cho sức khỏe? Hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu!