Ghi nhận tại các bệnh viện cho thấy, vào dịp lễ Tết nhiều trường hợp uống rượu khi vào cấp cứu nếu nồng độ rượu trong máu trên 500mg/100ml thì sẽ gây tử vong cho hầu hết người bệnh.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nghiện rượu là nhu cầu thèm muốn, đòi hỏi thường xuyên đồ uống có cồn, hình thành thói quen, gây rối loạn nhân cách, giảm khả năng lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe. Như vậy, nếu uống rượu với số lượng lớn trong một thời gian dài sẽ dẫn đến nghiện rượu.
Để xác định nghiện rượu, ngày nay hầu hết các tác giả đều sử dụng tiêu chuẩn như: Uống rượu hàng ngày trong thời gian từ 10 năm trở lên hoặc mỗi ngày uống tối thiểu 300ml rượu 40 độ cồn.
Vậy say rượu có phải là ngộ độc rượu không? Đây là câu hỏi của nhiều người và gây tranh cãi của các nam giới trên bàn nhậu. Tiêu chuẩn của ngộ độc rượu là một người vừa uống một lượng rượu lớn, gây rối loạn hành vi và khi đó xác định cần định lượng nồng độ rượu trong máu để xem mức độ ngộ độc rượu.
Cách xác định ngộ độc rượu là khi nồng độ rượu từ 80 - 100mg rượu trong 100ml máu được coi là ngộ độc rượu và không đủ năng lực để lái xe. Trên thực tế nồng độ cồn trong máu rất thấp, chỉ 10 - 20mg rượu trong100ml máu đã gây thay đổi hành vi rõ ràng, vận động chậm chạp, giảm khả năng suy nghĩ.
Nếu nồng độ cồn trong máu từ 100mg đến 200mg trong 100ml máu gây rối loạn phối hợp động tác, giảm khả năng quyết định. Ở một số người nặng hơn có thể gây thất điều, cảm xúc không ổn định và rối loạn định hướng trầm trọng.
Trong một số trường hợp ghi nhận, ở một số người không bị rối loạn vận động và tâm thần rõ ràng khi có nồng độ cồn trong máu là 150mg trong 100ml máu, vì họ là người có khả năng dung nạp với rượu rất cao. Nhưng ở những người khác, khi có nồng độ cồn trong máu ở mức độ này thì họ sẽ buồn nôn và nôn.
Nếu nồng độ cồn máu là 200 - 300mg/100ml máu, người uống rượu sẽ nói líu lưỡi, quên ngược chiều. Và nếu nồng độ rượu cao hơn sẽ khiến bệnh nhân bị mất trí nhớ và nồng độ cồn máu đạt đến 400mg/100ml người uống rượu sẽ bị ức chế hô hấp, hôn mê và có thể gây tử vong.
![]()
Nhiều người uống rượu thường xuyên nhưng không thừa nhận là nghiện rượu.
Nghiện rượu và những hệ lụy thì ai cũng biết, nhưng để hiểu cụ thể nếu nghiện rượu sẽ gặp những bệnh lý liên quan nào thì hầu hết nhiều người thường nghĩ đến bệnh về gan. Tuy nhiên, điều này chưa đủ, các ghi nhận cho thấy bệnh loét dạ dày, hành tá tràng gặp ở 15% số người nghiện rượu. Không chỉ xơ gan mà viêm tụy cũng có tỷ lệ tương tự ở các người nghiện rượu.
Người nghiện rượu còn đối mặt với các bệnh lý khác, trong đó có tỷ lệ cao bị ung thư thực quản, dạ dày hoặc bộ phận khác của ống tiêu hóa. Bệnh lý phổ biến liên quan đến nghiện rượu là tăng huyết áp và đái tháo đường.
Bệnh lý tim mạch cũng tương tự, người ta thấy tình trạng thiếu máu cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim ít gặp hơn, nhưng cũng xảy ra ở bệnh nhân nghiện rượu. Người uống rượu nhiều còn sẽ làm tăng Triglycerit và Cholesterol nhẹ trong máu, do vậy tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim.
Nghiện rượu còn gây tổn thương thần kinh ngoại vi, làm giảm cảm giác, yếu cơ hoặc liệt cơ. Thậm chí còn làm tổn thương thần kinh trung ương với biểu hiện teo não, giảm khả năng nhận thức, rối loạn trí nhớ.
Đối với tâm thần thì nghiện rượu, uống nhiều rượu gây tăng tỷ lệ tự sát ở bệnh nhân hoặc nhẹ hơn là trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Nhưng hệ lụy của các rối loạn này dẫn bệnh nhân đến các hành vi tự sát.
Lời khuyên của thầy thuốc
Uống nhiều rượu không tốt cho cơ thể. Vì vậy, theo khuyến cáo người Việt Nam, để phù hợp với kích cỡ cơ thể và dễ ước tính, với nam giới không nên quá 20 gam/ngày, với nữ giới không nên quá 10 gam/ngày, tương đương với:
Cần lưu ý rằng trong hầu hết các trường hợp, rượu, bia chỉ có hại cho sức khỏe, không có loại rượu bia nào an toàn. Bia cũng là rượu "loãng" (hàm lượng rượu Ethanol thấp hơn nhưng lại uống nhiều hơn nên tổng lượng Ethanol bạn uống cũng đáng kể).
Vì vậy, cần chọn mua loại rượu, bia có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, cả về người bán và người sản xuất, để tránh trường hợp bạn uống phải rượu giả, rượu có chứa cồn công nghiệp.
Nghiện rượu dẫn đến các triệu chứng lâm sàng hoặc có ít nhất 2 triệu chứng trong số các triệu chứng sau, biểu hiện trong thời gian ít nhất 12 tháng:
Yoga là phương pháp luyện tập kết hợp vận động, kiểm soát hơi thở và thiền định, mang lại lợi ích lớn cho cả sức khỏe thể chất và tinh thần. Đặc biệt, yoga cho người mới bắt đầu là lựa chọn lý tưởng để giảm căng thẳng, tăng sự linh hoạt và cải thiện sức khỏe.
Nước bạc hà là thức uống đơn giản nhưng mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như hỗ trợ tiêu hóa, giảm đau đầu, cải thiện miễn dịch và làm dịu triệu chứng hô hấp…
Vào mùa thi, áp lực từ khối lượng kiến thức lớn, kỳ vọng từ gia đình, thầy cô cùng nỗi lo về kết quả tương lai dễ khiến nhiều bạn rơi vào trạng thái căng thẳng kéo dài, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần và thể chất. Tuy nhiên, sự căng thẳng có thể được kiểm soát và tăng thêm động lực. Sau đây, viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về những kỹ thuật thư giãn và quản lý áp lực mùa thi hiệu quả.
Sắn dây là thức uống giải nhiệt quen thuộc. Gần đây, một số nghiên cứu cho thấy dược liệu này có thể hỗ trợ kiểm soát huyết áp khi dùng đơn lẻ hoặc phối hợp, tuy nhiên cần sử dụng đúng cách và theo tư vấn chuyên môn.
Nhiệt độ và huyết áp có mối quan hệ nghịch đảo, nghĩa là khi nhiệt độ tăng, huyết áp sẽ giảm.
Việc cho cà phê vào sữa chua là công thức kháng viêm tự nhiên, giàu protein, giàu lợi khuẩn tốt cho đường ruột. Đây là một cách đơn giản bạn có thể áp dụng để chủ động phòng bệnh đường ruột.
Việc đẩy mạnh hoạt động thể thao mùa hè cho trẻ em là giải pháp khoa học nhằm thay thế thói quen sử dụng thiết bị điện tử và giảm áp lực học tập. Vận động ngoài trời không chỉ tăng cường sức bền mà còn kích thích hormone tăng trưởng, hỗ trợ phát triển hệ xương khớp tối ưu, đặc biệt là cải thiện chiều cao trong giai đoạn dậy thì.
Những thành tự nghiên cứu về Bộ gen người vào năm 2003 đã mở ra cánh cửa hiểu biết sâu rộng về di truyền con người. Tuy nhiên, bộ mã DNA không thể giải thích được toàn bộ sự phức tạp về sức khỏe và bệnh tật của từng cá nhân. Di truyền ngoại gen (hay còn gọi là Epigenetic) là một lĩnh vực nghiên cứu các thay đổi trong biểu hiện gen mà không làm thay đổi trình tự DNA. Đây hiện đang là một chủ đề được bàn tán nhiều trong những năm gần đây khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe cá nhân ngày càng gia tăng.