Bệnh của hệ thống tiết niệu cũng không có quá nhiều loại nhưng điều oái ăm ở chỗ đó thường là những bệnh nan giải. Có thể tạm phân chia ở đây thành những bệnh tiết niệu ngoại khoa và bệnh tiết niệu nội khoa và người bệnh không thể tự dùng thuốc...
Những bệnh tiết niệu ngoại khoa là những bệnh cần tới các biện pháp mổ xẻ để chỉnh sửa hoặc chích rạch hoặc lấy một phần hoặc toàn bộ cơ quan hệ tiết niệu ra ngoài. Chúng bao gồm một số bệnh sau: sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang, u thận, nang nước thận, ung thư thận, thận móng ngựa, rò bàng quang - trực tràng, dị dạng niệu quản bẩm sinh, chấn thương thận, vỡ thận, vỡ bàng quang, chấn thương niệu đạo, suy thận... Những bệnh ngoại khoa là những bệnh đòi hỏi biện pháp mổ xẻ là chính. Thuốc dùng trong các trường hợp này là thuốc kháng sinh.
Những bệnh tiết niệu nội khoa là những bệnh cần tới các biện pháp dùng thuốc hoặc can thiệp tối thiểu. Những bệnh này đòi hỏi phải dùng nhiều thuốc và phối hợp các thuốc đi cùng nhau. Một số bệnh điển hình như bệnh lậu, bệnh giang mai, bệnh viêm niệu đạo cấp không do lậu, viêm bàng quang cấp, viêm thận bể thận ngược dòng, viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư, viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận trong bệnh hệ thống, suy thận. Những bệnh này đòi hỏi phải dùng thuốc rất phức tạp, kéo dài và một điều không may thuốc lại đắt đỏ và lại có nhiều tác dụng phụ.
Việc dùng thuốc để điều trị bệnh tiết niệu là cần thiết.
Nếu không cần tới những chỉ định đặc biệt từ kết quả kháng sinh đồ, thuốc kháng sinh dùng trong hệ thống tiết niệu thường là kháng sinh phổ rộng và thiên về vi khuẩn gram âm nhiều hơn. Một số thuốc kháng sinh điển hình như ciprofloxacin, levofloxacin (nhóm quinolon), amoxicillin, cefuroxim, cefixim, cefotaxim, ceftriaxon (nhóm beta lactam), doxycyclin (nhóm tetracyclin). Đặc điểm chung khi dùng thuốc này là phải dùng đủ liều lượng, thường phải dùng chia liều thành 2 lần/ngày, trừ một số thuốc đặc biệt trong một số trường hợp đặc biệt chỉ dùng 1 liều duy nhất trong ngày như thuốc điều trị bệnh lậu cấp tính. Thời gian dùng thuốc phải kéo dài ít nhất 7 ngày, kể cả từ ngày thứ hai của đợt điều trị bạn đã cảm thấy mọi thứ coi như ổn. Thuốc kháng sinh dùng trong đường tiết niệu ít khi phải phối hợp thuốc trong đợt điều trị đầu tiên.
Có lẽ, không có nhóm bệnh nào lại cần và buộc phải dùng nhóm thuốc chống viêm steroid như các bệnh thận tiết niệu. Các thuốc chống viêm có tác dụng làm xóa bỏ tình trạng viêm ở tiểu cầu thận một cách kỳ diệu. Nó xóa bỏ các tình trạng tiểu máu, tiểu protein. Những bệnh như viêm cầu thận mạn, viêm cầu thận cấp, hội chứng thận hư đều phải cần tới các thuốc chống viêm steroid. Muốn có tác dụng điều trị, các thuốc chống viêm steroid phải dùng liều cao và mạnh ngay từ đầu. Vì cần dùng thuốc liều cao nên hạn chế dùng liều chia nhỏ trong ngày. Một số thuốc điển hình như prednisolon, methylprednisolon, betamethasone... Đây được coi là vị cứu tinh cho những người không may mắn mắc bệnh này. Nhưng đặc biệt lưu ý là thuốc có nhiều tác dụng phụ mà khi dùng cả bác sĩ và người bệnh đều phải thận trọng.
Thuốc lợi tiểu là thuốc làm tăng số lượng nước tiểu hơn so với mức bình thường, chủ yếu dùng để chữa phù và chữa tăng huyết áp. Nó không có tác dụng với hệ thận tiết niệu bởi việc dùng hay không dùng hệ thống này cũng không được lợi lộc. Nhưng một số tài liệu có liệt kê nhóm thuốc này vào thuốc tiết niệu bởi nó có cơ chế tác dụng là hoạt động trên khu vực ống thận nằm ở trong thận. Do đó, nếu cắt bỏ thận thì thuốc này vô tác dụng. Thuốc lợi tiểu thường chỉ uống 1 lần trong 1 ngày và xác định trước là đi tiểu khá nhiều.
Nhóm thuốc này có tác dụng làm giãn cơ trơn của thành ống niệu quản để đạt được mục tiêu điều trị giảm đau hệ tiết niệu. Thuốc này được chỉ định trong các cơn đau quặn thận và đặc biệt có tác dụng trong các trường hợp này. Một số nhóm bệnh cần phải dùng các thuốc giãn cơ trơn dù người bệnh có đau hay không đau: bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi niệu quản.
Một nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS Medicine cho thấy việc theo dõi sự thay đổi của các chỉ số xét nghiệm máu theo thời gian có thể giúp nhận diện nguy cơ ung thư sớm hơn so với việc chỉ đánh giá kết quả của một lần xét nghiệm.
Đột quỵ là biến cố cấp tính nguy hiểm xảy ra khi dòng máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị gián đoạn, khiến tế bào não bị hoại tử nhanh chóng. Nếu không được cấp cứu trong "thời gian vàng", bệnh có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề như liệt, rối loạn ngôn ngữ. Hiện nay, căn bệnh này đang có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là ở nam giới. Nhằm giúp cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cốt lõi giúp nhận diện nguyên nhân và phòng ngừa đột quỵ hiệu quả.
Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.
Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.
Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.
U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.
Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!