Nguyên nhân gây VBQ có thể do vi khuẩn nhưng cũng có thể không do vi khuẩn.
Do vi khuẩn: Vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang thường theo con đường ngược dòng từ niệu đạo vào bàng quang, quá trình viêm thường là cấp tính. Nếu viêm mạn tính thì thường kèm theo viêm thận - bể thận mạn do vi khuẩn đi ngược từ bàng quang lên bể thận gây viêm. Niệu đạo nằm trong vùng tầng sinh môn gần với hậu môn, nên các vi khuẩn đường ruột thường xâm nhập vào niệu đạo rồi vào bàng quang. Vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang, nhân lên và phát triển gây viêm. Niêm mạc bàng quang sung huyết, phù nề, trợt loét, có thể chảy máu. Viêm gây kích thích làm bệnh nhân mót tiểu nhiều lần gây ra tiểu buốt, tiểu rắt.
Những điều kiện thuận lợi gây VBQ: Nữ giới, trẻ em và người cao tuổi, sau sinh hoạt tình dục, những người có bất thường niệu đạo hoặc chấn thương niệu đạo, sỏi bàng quang, phì đại lành tính tuyến tiền liệt, các thủ thuật thông bàng quang, soi bàng quang, đặc biệt phải lưu thông bàng quang lâu, các bệnh nhân bị đái tháo đường.
Không do vi khuẩn: Do một số loại thuốc, do tia xạ, hóa chất nhưng nguyên nhân này hiếm gặp.
Viêm bàng quang gây cảm giác khó chịu, đau buốt cho người bệnh
Người bệnh khi bị VBQ thường có thể nhận biết bằng những biểu hiện không bình thường:
Đái rắt: Người bệnh mót đi tiểu nhiều lần trong ngày, thường 5-10 lần, có thể tới 20 lần/ngày. Mỗi lần chỉ đi được rất ít nước tiểu, có khi chỉ vài giọt. Sau khi đi tiểu bệnh nhân không có cảm giác thoải mái. Tuy đi tiểu nhiều lần nhưng số lượng nước tiểu trong ngày bình thường.
Đái buốt: Sau khi đi tiểu bệnh nhân thấy buốt, nóng rát ở tầng sinh môn.
Đau tức vùng hạ vị: Đau phía trên xương mu.
Đái ra máu đại thể: Nước tiểu hồng hoặc đỏ ở cuối bãi. Triệu chứng này chỉ xảy ra khi có chảy máu bàng quang.
Đái ra mủ và nước tiểu đục: Nếu đựng nước tiểu trong ống thủy tinh để lắng sẽ thấy ba vùng: vùng trên cùng đục, vùng giữa là mủ, vùng dưới trong hơn có các dây mủ lởn vởn. Đái ra mủ chỉ xảy ra khi VBQ nặng.
Toàn thân thường bình thường, không sốt.
Xét nghiệm nước tiểu thấy bạch cầu và hồng cầu niệu vi thể, mủ niệu là các tế bào bạch cầu đa nhân thoái hóa nếu viêm bàng quang nặng, soi cặn nước tiểu tươi có thể thấy vi khuẩn, cấy nước tiểu giữa dòng có trên 105 vi khuẩn/ml nước tiểu, làm xét nghiệm cặn Addis có trên 5000 bạch cầu/ml/ph.
VBQ tái diễn: Nếu VBQ không được điều trị triệt để hoặc không điều trị, triệu trứng giảm rồi lại bùng phát trở lại.
Đối với VBQ do vi khuẩn, biện pháp điều trị thường dùng các thuốc:
Thuốc kháng sinh: Nên chọn loại kháng sinh bài tiết qua đường thận, ưu tiên chọn các kháng sinh tác dụng lên vi khuẩn gram âm. Trường hợp nặng cần làm kháng sinh đồ và chọn kháng sinh theo kháng sinh đồ.
Dùng thuốc giãn cơ trơn: Để giảm đau như nospa, spasmaverin.
Ngoài ra, người bệnh nên uống nhiều nước: Uống trên 2 lít nước/ngày để làm tăng lưu lượng dòng nước tiểu giúp tăng đào th ải vi khuẩn. Trong trường hợp VBQ nặng, có mủ bàng quang các bác sĩ sẽ dùng biện pháp đặt ống thông bàng quang và rửa bàng quang cho đến khi nước tiểu trong rồi bơm vào bàng quang dung dịch kháng sinh.
Đối với VBQ không do vi khuẩn mà do hóa trị hoặc xạ trị thì biện pháp điều trị tập trung vào quản lý đau, thường dùng thuốc giảm đau và hydrat hóa để loại chất kích thích bàng quang. Hầu hết các trường hợp điều trị hóa chất gây ra VBQ có xu hướng tự khỏi sau khi hóa trị kết thúc.
Để không bị VBQ, mỗi người cần luôn giữ vệ sinh đường tiết niệu sinh dục sạch sẽ, không nhịn tiểu; uống nhiều nước, nhất là mùa hè; sinh hoạt tình dục lành mạnh (phụ nữ sau sinh hoạt tình dục 30 phút nên đi tiểu và vệ sinh vùng sinh dục); hạn chế các thủ thuật thông bàng quang, nếu phải thông bàng quang phải tuân thủ chặt chẽ chế độ vô khuẩn.
Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.
Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.
Các bậc cha mẹ luôn muốn điều tốt nhất cho con cái của mình. Đó là lý do tại sao rất nhiều bậc cha mẹ phải vật lộn với những lựa chọn nuôi dạy con. Và xét cho cùng, chúng ta cũng chỉ là con người, việc cảm thấy bực bội với con cái là điều bình thường, đặc biệt là khi chúng cư xử không đúng mực. Nhưng cách bạn thể hiện sự bực bội và giải quyết tình huống có thể ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách và sức khỏe lâu dài của trẻ. Cùng đọc tiếp để tìm hiểu xem các nghiên cứu lâm sàng đã phát hiện ra về tác động lâu dài của việc la mắng đối với trẻ em!
Rối loạn nội tiết có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, cân nặng, chu kỳ kinh nguyệt và tâm trạng. Bên cạnh điều trị y khoa, một số loại trà được nghiên cứu cho thấy có thể hỗ trợ điều hòa hormone ở mức độ nhất định.
Trong xu hướng tìm kiếm các hợp chất tự nhiên để hỗ trợ sức khỏe, Kim ngân hoa nổi lên như một nguyên liệu tiềm năng nhờ khả năng can thiệp vào các lộ trình tín hiệu liên quan đến stress oxy hóa và viêm.