Magie giúp chống lại bệnh đột quỵ não, tim mạch và tiểu đường
Những người có lượng magie cao thường ít có nguy cơ mắc các bệnh tiểu đường, tim mạch, bệnh mạch vành, đột quỵ não và tiểu đường typ 2. Các nghiên cứu trong vòng một thập kỷ qua đều cho thấy lượng magie thấp là một trong những yếu tố nguy cơ dẫn đến xơ vữa động mạch và những bệnh tim mạch khác. Tuy nhiên, những kết quả này thường không được chú ý và magie bị "coi thường" hơn các yếu tố khác như cholesterol hoặc chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi lượng canxi và magie không đáp ứng đủ nhu cầu của cơ thể thì sẽ làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch. Trong khi các bác sỹ cố tập trung vào giải quyết vấn đề cholesterol và kê đơn statin trong vòng 20 năm qua nhưng thực sự bệnh tim mạch vẫn còn là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong trên thế giới.

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã phát hiện ra rằng hơn 1 triệu người đã được kiểm chứng rằng nếu nạp nhiều magie thì sẽ giảm được 10% nguy cơ bị mắc bệnh mạch vành, 12 % nguy cơ đột quỵ và 26% nguy cơ bị tiểu đường typ 2.
Một tạp chí y khoa có tiếng cũng khuyên nghị rằng nam giới nên nạp khoảng 300mg Magie mỗi ngày và với nữ là 270 mg. Trong khi đó nhu cầu khuyến nghị cho người trưởng thành rơi vào khoảng từ 320mg đến 370mg tùy độ tuổi. Như vậy là khuyến nghị trên không khuyến khích mọi người nạp thêm magie vào người mà là cố gắng nạp đủ bởi việc thiếu hụt các chất khoáng vẫn là một vấn đề phổ biến, ảnh hưởng đến 1,5-15% dân số thế giới.
Vấn đề thiếu hụt magie thường bị các nhà khoa học coi nhẹ. Năm 2013, một bài tổng quan về nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch cho thấy chính nồng độ magie thấp chứ không phải là lượng cholesterol cao hay tiêu thụ nhiều chất béo bão hòa, mới là nguyên nhân của nhiều bệnh tim mạch. Đó có thể coi là một lời giải thích cho việc tại sao các phác đồ điều trị bệnh tim mạch hoặc chiến lược phòng chống tim mạch hiện nay vẫn chưa kiểm soát hiệu quả lượng người mắc và tử vong do bệnh tim mạch.
Ngoài tim mạch ra một số bệnh khác cũng có thể là hậu quả của việc thiếu hụt magie như: tăng huyết áp, tiểu đường typ 2, vấn đề giảm nồng độ cholesterol máu, loạn nhịp tim, đau thắt ngực, đau tim.
Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị mỗi người nên nạp từ 400-500 mg magie mỗi ngày. Trong khi một số chuyên gia dinh dưỡng lại khuyến cáo bạn nên nạp đủ lượng nhưng phải cân bằng giữa magie và canxi với tỷ lệ 1:1 và thêm vào đó là vitamin D cùng với vitamin K2 để giúp cho xương và hệ thống tim mạch khỏe mạnh.
Magie là một vi chất dinh dưỡng quan trọng trong cơ thể, chúng tham gia vào cấu tạo trên 300 loại enzyme, giúp điều hòa hoạt động cơ bắp thần kinh, giãn mạch, điều hòa đường huyết, chắc khỏe xương răng. Magie cũng giúp có thể thải độc và tổng hợp glutathione, tăng giải phóng năng lượng.

Thông tin thêm về magie tại bài viết: 6 dấu hiệu cảnh báo cơ thể thiếu magiê
Uống đủ nước có thể hỗ trợ giảm cân thông qua tăng nhẹ chuyển hóa, giảm cảm giác đói và thay thế đồ uống nhiều calo…
Ai cũng biết, phần lớn vi khuẩn chính là kẻ thù của con người. Vi khuẩn gần như tồn tại ở mọi nơi, mọi cơ quan trên cơ thể, chỉ cần có điều kiện thích hợp chúng sẽ có thể gây bệnh cho con người. Để tiêu diệt được vi khuẩn, loài người đã tạo ra kháng sinh.
Chảy máu mũi (còn gọi là chảy máu cam) có thể gây lo lắng, nhưng trong hầu hết các trường hợp, chảy máu cam rất dễ cầm và hiếm khi nghiêm trọng. Điều quan trọng là phải thực hiện cầm máu đúng cách và an toàn.
Việc duy trì thói quen sử dụng 6 loại đồ uống quen thuộc dưới đây là cách đơn giản để giúp gan phục hồi và giải độc, chăm sóc gan mỗi ngày.
Nhiều người cho rằng lão hóa đơn giản là hệ quả tất yếu của tuổi tác. Tuy nhiên, trong sinh học, lão hóa không chỉ là con số tuổi, mà là quá trình cơ thể dần mất đi khả năng tự bảo vệ, tự sửa chữa và thích nghi với môi trường.
Việc bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết để hỗ trợ khả năng sinh sản là vô cùng quan trọng khi cố gắng thụ thai.
Những món ăn nhẹ được gợi ý dưới đây không chỉ giúp người cao tuổi cảm thấy nhẹ nhàng mà còn hỗ trợ quá trình tiêu hóa và giảm mỡ bụng hiệu quả từ bên trong.
Viêm là một đáp ứng sinh lý thiết yếu của hệ miễn dịch trước các tác nhân gây tổn thương như chấn thương, nhiễm trùng hoặc kích thích hóa học