Loạn sản thận là gì?
Đối với loạn sản thận, cấu trúc bên trong một trong hai thận của trẻ không phát triển bình thường. Các túi đầy dịch gọi là nang thay thế mô thận bình thường. Loạn sản thận thường xảy ra chỉ ở một thận. Trẻ có một thận bình thường có thể không gặp trở ngại về phát triển hoặc có một ít vấn đề sức khỏe. Trẻ có cả hai thận loạn sản nhìn chung không sống sót trong thời kì mang thai, nếu không thì chúng cũng cần lọc thận hoặc ghép thận ở giai đoạn sớm cuộc đời.
Cơ chế hình thành
Niệu quản là ống đi từ thận và phân nhánh để tạo thành mạng lưới tiểu quản có nhiệm vụ thu thập nước tiểu khi bào thai phát triển trong tử cung. Đối với loạn sản thận, các tiểu quản thất bại để phân nhánh hoàn toàn. Nước tiểu đáng lẽ chảy bình thường sang tiểu quản thì không có chỗ nào để đi, vì vậy chúng tụ lại ở trong, ảnh hưởng đến thận và hình thành nang.
Nguyên nhân
Loạn sản thận có thể bị gây ra bởi mẹ phơi nhiễm với một số thuốc cụ thể hoặc các yếu tố do gen. Phụ nữ có thai nên thảo luận với nhân viên y tế trước khi uống bất kì thuốc nào trong thai kì. Thuốc có thể gây loạn sản thận bao gồm những thuốc theo kê đơn, chẳng hạn thuốc chữa động kinh hoặc thuốc cao huyết áp gọi là thuốc ức chế enzyme chuyển đổi angiotensin (ACE) và thuốc chẹn receptor angiotensin (ARBs). Sử dụng chất cấm như cocaine cũng có thể gây ra loạn sản thận cho bào thai.
Loạn sản thận cũng bị gây ra bởi yếu tố di truyền. Rối loạn này dường như là đặc điểm tính trạng trội, có nghĩa cha hoặc mẹ có thể di truyền lại cho con. Khi loạn sản thận được phát hiện ở trẻ, khám siêu âm có thể phát hiện tình trạng bệnh ở cha hoặc mẹ.
Một số hội chứng di truyền ảnh hưởng đến hệ cơ quan khác có thể bao gồm loạn sản thận là một trong chứng dấu hiệu của triệu chứng. Một hội chứng là một nhóm triệu chứng hoặc tình trạng có vẻ không liên quan nhưng lại chung nguyên nhân – thường nguyê nhân di truyền. Đứa trẻ có loạn sản thận có thể cũng có vấn đề đường tiêu hóa, hệ thần kinh, tim mạch, cơ xương hoặc các phần khác của hệ tiết niệu.
Các vấn đề của hệ tiết niệu dẫn đến loạn sản thận có thể cũng ảnh hưởng đến thận bình thường. Ví dụ, tình trạng khuyết tật bẩm sinh đường tiết niệu gây ra tắc nghẽn tại điểm nước tiểu chảy bình thường từ thận qua niệu quản. Khuyết tật khác khiến nước tiểu chảy ngược từ bàng quang về niệu quản, đôi khi về thận. Tình trạng này gọi là trào ngược. Qua thời gian, nếu những vấn đề này không được chữa trị, chúng có thể phá hủy thận bình thường và dẫn tới suy thận hoàn toàn.
Dấu hiệu và biến chứng
Thận bị ảnh hưởng có thể to khi sinh ra. Bất thường ở niệu quản có thể dẫn đến nhiễm khuẩn niệu quản. Trẻ em bị loạn sản thận có thể phát triển cao huyết áp nhưng hiếm. Tương tự, chúng có thể có nguy cơ ung thư thận cao hơn một chút. Bệnh thận mãn tính và suy thận có thể tiến triển nếu trẻ có vấn đề về tiết niệu ảnh hưởng đến thận bình thường. Nhiều trẻ bị loạn sản thận một bên sẽ không có dấu hiệu hoặc triệu chứng.
Chẩn đoán
Loạn sản thận thường được phát hiện bởi siêu âm bào thai trong thời gian mang thai. Phương pháp này sử dụng sóng âm để tạo dựng hình ảnh trẻ đang phát triển trong tử cung. Tuy nhiên, không phải lúc nào tình trạng đó cũng được phát hiện trước khi trẻ sinh ra. Sauk hi sinh, thận phình to được phát hiện khi khám nhiễm khuẩn niệu đạo hoặc các tình trạng y tế khác.
Điều trị
Nếu tình trạng này chỉ giới hạn ở một thận và trẻ không có triệu chứng, không cần điều trị. Nên thường xuyên khám bao gồm đo huyết áp, xét nghiệm máu để đo lường chức năng thận và thử protein trong nước tiểu. Thông thường trẻ sẽ được giám sát bằng siêu âm định kì để tìm xem thận bị ảnh hưởng và đảm bảo thận còn lại tiếp tục phát triển bình thường và không phát triển bất kì triệu chứng nào khác. Trẻ em bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể cần kháng sinh.
Cắt thận được xem xét chỉ khi thận:
Nước chiếm 60-70% trọng lượng cơ thể và tham gia vào hầu hết mọi phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Thế nhưng, tình trạng thiếu nước mãn tính - không phải mất nước cấp tính - đang âm thầm ảnh hưởng đến sức khỏe của hàng triệu người Việt Nam mỗi ngày mà họ không nhận ra.
Chế độ ăn Địa Trung Hải từ lâu đã được coi là chuẩn mực cho một sức khỏe tốt. Ăn uống là một hành trình mang tính cá nhân sâu sắc, gắn liền với các mối liên hệ văn hóa, niềm tin tâm linh, thói quen và tất nhiên là cả nguồn thực phẩm sẵn có. Chế độ ăn uống trực tiếp chịu trách nhiệm cho sức sống cũng như sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi có nhiều tranh luận về việc thế nào mới chính xác là một chế độ ăn lành mạnh; bởi đây là một vấn đề quan trọng và đầy thách thức.
Tập thể dục đều đặn hàng ngày có thể làm giảm huyết áp bằng cách tăng cường sức khỏe tim mạch và cải thiện độ đàn hồi cũng như chức năng của mạch máu. Tập thể dục với cường độ vừa phải hầu hết các ngày trong tuần có thể giúp giảm huyết áp bền vững và giảm nguy cơ mắc bệnh tim.
Hơn 80% người trưởng thành tại Việt Nam nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori – tác nhân chính gây viêm loét và ung thư dạ dày. Khám phá ngay cơ chế lây truyền, quá trình phát triển bệnh và thách thức kháng kháng sinh hiện nay để chủ động bảo vệ sức khỏe gia đình bạn
Hội chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui – Anhedonia là tình trạng khiến bạn không thể trải nghiệm niềm vui hoặc sự thích thú. Bạn có thể cảm thấy tê liệt hoặc ít hứng thú hơn với những điều mà trước đây bạn từng yêu thích. Đây là một triệu chứng phổ biến của nhiều bệnh lý tâm thần như trầm cảm. Cùng tìm hiểu về hội chứng này qua bài viết sau đây!
Đối với hầu hết mọi người, tác hại của ánh nắng mặt trời đối với da bắt đầu trong vòng 15 phút sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời mà không sử dụng kem chống nắng. Tuy nhiên, thời gian có thể thay đổi tùy thuộc vào loại da và loại tia cực tím, chỉ số (UV), thời gian và địa điểm.
Thức khuya đã trở thành thói quen phổ biến trong xã hội hiện đại, đặc biệt ở giới trẻ. Nhưng ít ai biết rằng, việc thiếu ngủ mãn tính không chỉ gây mệt mỏi mà còn âm thầm phá hủy sức khỏe từ bên trong — từ tim mạch, não bộ đến hệ miễn dịch và cân nặng.
Tìm hiểu mức độ nguy hiểm của bệnh ho gà đối với cộng đồng và khám phá lịch tiêm chủng thiết yếu cho mẹ bầu cùng trẻ sơ sinh nhằm tạo dựng hàng rào miễn dịch vững chắc.