Những năm 50 đánh dấu một thập kỷ với hàng nghìn trẻ em tử vong do bệnh bại liệt. Cao điểm, năm 1952, virus bại liệt đã lây nhiễm tới gần 60.000 trẻ tại Mỹ, giết chết 3.000 bệnh nhân.
Cũng trong năm đó, nhà khoa học Jonas Salk cùng các đồng nghiệp của mình tại Đại học Pittsburgh đã phát minh ra vắcxin phòng bệnh bại liệt. Đây là dấu mốc quan trọng, viết tiếp một chương mới trong sự sống của loài người và lịch sử y khoa.
Dịch bại liệt bùng phát
Đầu thế kỷ 20, bại liệt là nỗi ám ảnh của nhiều bậc cha mẹ. Đợt bùng phát đầu tiên ở Vermont, năm 1894 có 132 người mắc bệnh. Bại liệt tái phát theo chu kỳ, hoành hành trong nhiều thập kỷ, khó tìm ra giải pháp triệt để.
![]() |
|
Trẻ em mắc bệnh bại liệt đầu thế kỷ 20. Ảnh: Global Polio Eradication Intiative |
Trẻ em thường mắc bệnh vào mùa hè. Cứ sau vài năm, một đợt dịch lại bùng phát, lây lan khắp thị trấn.
Một số người khỏi bệnh, nhiều người bị tê liệt tạm thời hoặc bại liệt vĩnh viễn, các trường khác hợp tử vong.
Virus bại liệt thường cư trú ở cổ họng hoặc ruột của con người, dễ dàng lây lan qua đường miệng và chất thải như phân. Bại liệt cũng có thể lây lan qua các đồ vật. Do sự lây nhiễm dễ dàng, căn bệnh đặc biệt phổ biến ở trẻ em.
Chính vì vậy, nhiều nơi phải đóng cửa các bể bơi. Người dân được khuyến cáo không nên ngồi cạnh nhau khi xem phim để tránh lây nhiễm.
Vắcxin là giải pháp duy nhất
Người mắc bệnh bại liệt thường phải sử dụng các liệu pháp đặc biệt để có thể hô hấp bình thường nếu tình trạng nhiễm trùng ảnh hưởng đến cổ họng và cơ ngực. Thiết bị trợ thở cho bệnh nhân được gọi là "phổi sắt", có hình dạng ống dài, nặng ít nhất 360 kg.
|
Jonas Salk tiêm vắcxin cho trẻ. Ảnh: 29Fzidv |
Năm 1950, vào thời gian cao điểm của bệnh dịch, số lượng phổi sắt không đáp ứng đủ nhu cầu của các bệnh nhân. Bác sĩ đối mặt với hai lựa chọn, sử dụng phổi sắt cho các ca bệnh nặng hay các bệnh nhân có nhiều khả năng sống sót hơn.
Bệnh bại liệt không có thuốc điều trị triệt để, chính vì vậy, cách ngăn ngừa duy nhất chính là tiêm phòng.
Vắcxin bảo vệ 99% trẻ em khỏi bại liệt
Liều vắcxin bại liệt đầu tiên được phát minh bởi nhà khoa học Jonas Salk và sử dụng thử nghiệm cho các học sinh tại trường Tiểu học Arsenal, Pittsburgh vào ngày 23/2/1954. Tháng 4/1955, vắcxin được công bố trên toàn thế giới.
Năm 1957, nhà khoa học Albert Sabin đã phát triển loại vắcxin bại liệt thứ hai, theo dạng uống và được sử dụng cho tới ngày nay.
![]() |
|
Tiến sĩ Albert Sabin cho trẻ uống vắcxin bại liệt. Ảnh: Pasteur Meriuex |
Sau những đợt tiêm chủng tại Mỹ, số ca mắc bệnh giảm thiểu đáng kể. Theo thống kê, đầu thập niên 1950, nước này có khoảng 20.000 trường hợp bại liệt được báo cáo mỗi năm. Đến năm 1960, con số giảm xuống còn 2.500 người. Năm 1965, Mỹ chỉ có 61 ca bệnh. Những trường hợp mắc bệnh bại liệt cuối cùng được tại Mỹ là vào năm 1979. Các ca bệnh nhỏ lẻ chỉ được ghi nhận ở Afghanistan và Pakistan.
Trẻ em được tiêm vắcxin bại liệt bất hoạt hai lần, khi tròn 2 và 4 tháng tuổi. Công tác tiêm phòng đã bảo vệ 99% trẻ em Mỹ khỏi căn bệnh từng được coi là nỗi ác mộng của các bậc phụ huynh. Các nước phương Tây chính thức loại trừ bệnh bại liệt vào năm 1994.
Vắcxin bại liệt được đánh giá là một trong những thành tựu lớn nhất trong lịch sử y học.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Tầm quan trọng của vaccin bại liệt
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.
Cà phê chứa caffeine, có thể ảnh hưởng đến cách cơ thể hấp thụ và chuyển hóa một số loại thuốc. Nếu bạn đang dùng thuốc theo toa, bác sĩ có thể khuyên bạn nên tránh cà phê và các loại đồ uống chứa caffeine, hoặc nên uống cà phê cách xa giờ uống thuốc.
Củ dền rất giàu nitrat, giúp làm giãn mạch máu và hỗ trợ huyết áp khỏe mạnh nhưng có một số loại thực phẩm khác mang lại nhiều lợi ích không kém.
Mùa nồm, hay hiện tượng ngưng tụ hơi nước do độ ẩm không khí vượt ngưỡng bão hòa (thường trên 90%), tạo điều kiện lý tưởng cho các loài vi nấm như Aspergillus hoặc Cladosporium phát triển mạnh mẽ trên bề mặt tường.
Cá khoai là một loại cá nước mặn được đánh giá cao vì có hàm lượng protein cao và ít chất béo. Nó cũng chứa nhiều khoáng chất thiết yếu hỗ trợ các chức năng hàng ngày của cơ thể. Dưới đây là 8 lợi ích của cá khoai trong chế độ ăn uống.