Từ nhiều năm, béo phì là gánh nặng với toàn cầu. Khi dịch Covid-19 xuất hiện, người thừa cân, béo phì càng dễ bị tấn công. Nhiều chuyên gia không ngừng giải mã về các loại chất béo trong cơ thể nhằm đưa ra những phương pháp giúp tiêu hao chất béo dư thừa, giảm tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em và người lớn trên toàn cầu.
Chất béo nâu ít hoạt động ở bé trai béo phì
Theo Science Daily, đây là kết quả mà nhóm chuyên gia tại Đại học McMaster, Canada, mới phát hiện gần đây. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Diabetes ngày 16/3.
Theo tác giả cấp cao của nghiên cứu, GS Katherine Morrison, Đại học McMaster, cơ thể dự trữ hai loại chất béo chính là trắng và nâu. Trong đó, chất béo trắng chiếm đa số, nằm ở eo, hông, đùi và dữ trữ năng lượng, giải phóng axit béo khi cần nhiên liệu. Ăn quá nhiều kèm theo không vận động trong thời gian dài khiến chất béo trắng tích tụ, các vùng tích mỡ to dần và hậu quả là chúng ta mắc bệnh béo phì.
Ngược lại, chất béo nâu giúp cơ thể đốt cháy chất béo thường xuyên. Nó truyền năng lượng từ thức ăn thành nhiệt năng. Chất béo nâu khi được kích hoạt hoàn toàn sẽ giúp đốt cháy 20% lượng thức ăn chúng ta nạp vào, ngăn ngừa béo phì do ăn uống. Tuy nhiên, mỗi người chỉ mang lượng chất béo nâu rất nhỏ (khoảng 50 g) và nó không thay đổi.

Nghiên cứu mới từ nhóm chuyên gia Canada phát hiện chất béo nâu ít hoạt động ở bé trai béo phì khi tiếp xúc cái lạnh.
(Ảnh: Freepik)
Ở người lớn, hoạt động của chất béo nâu do lạnh thấp hơn liên quan béo phì và rối loạn chức năng trao đổi chất. Mối quan hệ này ở trẻ em vẫn chưa chắc chắn. Do đó, các chuyên gia tại Canada đã nghiên cứu và kết luận cơ chế tương tự giữa người lớn và trẻ em.
Nhóm chuyên gia quét MRI để đo hoạt động của chất béo nâu ở 26 bé trai 8-10 tuổi. Trong đó, 13 bé trai có chỉ số BMI bình thường. Họ đo mô mỡ nâu ở cổ trước và sau một giờ tiếp xúc bộ đồ lạnh 18 độ C. Đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới nhằm xác định điều này.
Kết quả cho thấy mô mỡ nâu hay chất béo nâu (BAT) ít hoạt động hơn ở các bé trai bị béo phì so với những trẻ có chỉ số khối cơ thể (BMI) bình thường.
Theo GS Morrison, nghiên cứu của họ giúp hiểu rõ hơn về chất béo nâu và cách chúng ta có thể bắt chước, kích thích tác động của nó, từ đó mang tới hy vọng cho những liệu pháp mới điều trị bệnh béo phì.
"Ngoài việc giúp các gia đình cải thiện chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể chất và giấc ngủ, chúng tôi có một số phương pháp điều trị hỗ trợ trẻ em và thanh thiếu niên mắc bệnh béo phì. Một số loại thuốc mới làm giảm cảm giác thèm ăn ở thanh thiếu niên. Việc xem xét hoạt động của chất béo nâu mang lại hy vọng phát triển hàng loạt thuốc mới giúp tăng năng lượng bạn đốt cháy”, bà nói thêm.
Tuy nhiên, GS Morrison vẫn chưa biết liệu chất béo nâu ít hoạt động có gây ra béo phì nhiều hơn không hay nó chỉ làm giảm khả năng đốt cháy năng lượng. Ở trẻ sơ sinh, lượng chất béo nâu lớn nhất, nhưng sau đó nó giảm dần và đến khi trưởng thành chỉ còn xuất hiện ở vùng cổ. Hiện tại, họ vẫn chưa rõ lý do làm giảm nồng độ chất béo nâu ở trẻ em.
Hy vọng vào “chất béo màu be” tự chuyển hóa mỡ
Theo Ủy ban châu Âu, cách đây hai năm, các nhà khoa học đã tiến gần hơn tới cách biến tế bào mỡ trắng dự trữ năng lượng trong cơ thể thành những tế bào mỡ màu nâu đốt cháy năng lượng. Phát hiện này mở ra hy vọng ngày nào đó chúng ta có thể điều khiển chất béo tích tụ, ngăn bệnh béo phì và những tình trạng sức khỏe liên quan.
Giáo sư Mirko Trajkovski, Phòng thí nghiệm Sức khỏe trao đổi chất, Đại học Geneva, Thụy Sỹ, đặt niềm tin: “Bằng cách điều khiển cơ thể dự trữ chất béo, chúng ta có thể đạt được tiến bộ lớn trong cuộc chiến chống béo phì, kháng insulin và bệnh tiểu đường type II”.
Trong nghiên cứu mới của nhóm chuyên gia Thụy Sỹ, họ phát hiện chất béo thứ 3 mang tên chất béo màu be. Chúng sống trong mô mỡ trắng nhưng hoạt động gần giống chất béo nâu, đốt cháy calo để tạo ra nhiệt. Điều làm cho chất béo màu be trở nên đặc biệt bởi tính dẻo dai của nó, giúp “hóa nâu” những tế bào mỡ trắng.
Nghiên cứu cho thấy tập thể dục, phẫu thuật cắt bỏ dạ dày, tiếp xúc lâu với cái lạnh đều kích thích sản xuất chất béo màu be, có nghĩa là giúp cơ thể đốt cháy năng lượng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nếu so sánh nghiên cứu này với kết quả của nhóm chuyên gia Canada ở trên, hai phát hiện này khá mâu thuẫn với trẻ em.

Chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh và luyện tập thường xuyên vẫn là cách tốt nhất để ngăn ngừa thừa cân, béo phì.
(Ảnh: iStock)
GS Trajkovski và cộng sự đang nghiên cứu chuỗi các sự kiện mà tế bào mỡ trắng chuyển thành mỡ màu be. Họ thực hiện thí nghiệm trên chuột và nhận thấy hạn chế lượng calo chúng ăn vào sẽ giúp cân bằng năng lượng tiêu cực trong cơ thể, từ đó giúp tế bào trắng chuyển sang màu nâu nhanh hơn, giảm viêm.
Trong một bài báo năm 2019, ông cũng chỉ ra hệ sinh thái vi khuẩn đường ruột của con người cũng tham gia vào quá trình này. Khi chuột ăn ít hơn hoặc tiếp xúc với lạnh, thành phần hệ vi sinh vật thay đổi rõ rệt, từ đó tăng cường hệ thống miễn dịch bẩm sinh, cải thiện độ nhạy cảm của cơ thể với insulin (ngăn ngừa bệnh tiểu đường type II) và thúc đẩy quá trình hóa nâu của chất béo. Về mặt cơ học, phản ứng tích cực này là do vi khuẩn hạn chế calo sản xuất ít phân tử Lipopolysaccharides (LPS).
Những phát hiện này khiến các nhà khoa học đặt niềm tin vào những loại thuốc chống béo phì mới dựa trên hệ vi khuẩn đường ruột. Tuy nhiên, thách thức của họ vẫn là kiến thức về chất béo màu be vẫn rất ít ỏi. Và ngay cả khi có thuốc, chúng ta vẫn sẽ đối mặt hàng loạt tác dụng phụ đi kèm.
Do đó, vị chuyên gia nhấn mạnh chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng, vừa đủ và tích cực tập thể dục là cách tốt nhất để ngăn ngừa mắc bệnh béo phì, tiểu đường type II.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Chất béo là gì? Tại sao trẻ dưới 3 tuổi nhất thiết phải bổ sung chất béo?
Trong bối cảnh hiện đại, những thông điệp về chăm sóc sức khỏe tim thần thường gắn liền với những thay đổi mang tính hệ thống như: cai nghiện mạng xã hội hoàn toàn, thiết lập chế độ tập luyện khắc nghiệt hay thay đổi toàn bộ nhịp sinh học. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chính áp lực từ tư duy "tất cả hoặc không có gì" này lại trở thành rào cản tâm lý, khiến chúng ta dễ cảm thấy quá tải.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.