HPV ở miệng những điều bạn cần biết
Những typ HPV nguy cơ cao có thể gây ra ung thư cổ tử cung. Chúng được tìm thấy ở gần 75% tất cả những trường hợp nhiễm HPV. Những typ nguy cơ thấp thường tự biến mất mà không cần điều trị hoặc các bác sĩ có thể kê đơn thuốc cho bạn để điều trị các mụn cóc.
HPV là một tác nhân phổ biến nhất trong các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở Mỹ. Hầu hết những người trong độ tuổi hoạt động tình dục đều sẽ nhiễm HPV một vài lần trong đời. Có hơn 100 typ đã được tìm ra và có khoảng hơn 40 chủng có ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục và họng miệng. HPV lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp da - da.
Hầu hết các trường hợp bị nhiễm HPV ở cơ quan sinh dục thông qua quan hệ tình dục. Nếu bạn quan hệ bằng đường miệng, bạn có thể bị nhiễm ở miệng, họng. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu HPV ở miệng những điều bạn cần biết
Triệu chứng
HPV ở miệng thường không có triệu chứng. Điều đó có nghĩa là bạn sẽ không nhận thấy biểu hiện nhiễm trùng và ít thực hiện các biện pháp để hạn chế lây nhiễm. Ở một số trường hợp, nó có thể gây ra các mụn cóc ở họng, miệng nhưng thường ít phổ biến.
Những loại HPV này có thể gây ra ung thư miệng họng, bao gồm lưỡi, amidan và thành họng. Những triệu chứng ở giai đoạn đầu bao gồm:
Nếu bạn chú ý thấy bất kì triệu chứng nào nêu trên và bạn nghĩ rằng mình bị nhiễm HPV, bạn nên đến gặp bác sĩ ngay lập tức.
Nguyên nhân
HPV miệng xảy ra khi virus xâm nhập vào cơ thể qua các vết xước ở miệng và thường gặp do quan hệ tình dục đường miệng. Cần có thêm nhiều nghiên cứu nữa để xác định chính xác cách thức lây nhiễm của HPV miệng. Các chuyên gia mới chỉ tiến hành một vài nghiên cứu để tìm ra con người bị nhiễm HPV như thế nào nhưng kết quả còn nhiều trái ngược.
Thực trạng nhiễm HPV
Ước tính có khoảng 79 triệu người Mỹ hiện đang bị nhiễm HPV và khoảng 14 triệu người mắc mới mỗi năm. Có khoảng 7% người Mỹ trong độ tuổi 14-69 bị nhiễm HPV miệng. Số người bị nhiễm HPV miệng đang tăng dần trong 3 thập kỉ qua và gặp ở nam giới nhiều hơn.
Khoảng 2/3 số người bị ung thư miệng họng có tìm thấy sự xuất hiện của HPV. Hầu hết liên quan đến HPV typ 16, là một typ nguy cơ cao. Ung thư miệng họng khá hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 1% những người bị nhiễm HPV typ 16. Có ít hơn 15.000 người bị ung thư hầu họng có HPV dương tính mỗi năm.
Yếu tố nguy cơ
Những yếu tố nguy cơ của HPV miệng bao gồm:
Quan hệ tình dục bằng đường miệng, đặc biệt là những người có nhiều bạn tình. Nếu bạn có hơn 20 bạn tình, thì nguy cơ nhiễm HPV miệng của bạn là khoảng 20%.
Hút thuốc lá: hơi thuốc lá nóng sẽ khiến bạn dễ bị xước niêm mạc miệng, tạo điều kiện cho HPV xâm nhập.
Uống rượu: bạn sẽ có nguy cơ cao hơn nếu bạn vừa hút thuốc vừa uống rượu.
Hôn: cần thêm nhiều nghiên cứu nữa để xác định mối liên quan với sự lây nhiễm HPV đường miệng.

Chẩn đoán
Không có xét nghiệm nào để chẩn đoán xác định nhiễm HPV miệng. Bác sĩ của bạn có thể tìm ra tổn thương thông qua sàng lọc ung thư hoặc bạn có thể chú ý thấy những tổn thương trước khi đến gặp bác sĩ.
Nếu bạn có nhiều tổn thương, bác sĩ có thể cần làm sinh thiết và làm giải phẫu bệnh để xác định các tế bào ung thư và sự có mặt của HPV. Nếu HPV tồn tại trong bệnh phẩm thì ung thư sẽ dễ đáp ứng với điều trị hơn.
Điều trị
Hầu hết các typ HPV miệng có thể tự khỏi trước khi gây ra bất kì các vấn đề sức khỏe nào. Nếu bạn xuất hiện các mụn cóc ở miệng do HPV, bác sĩ có thể sẽ cần lấy bỏ chúng. Mụn cóc thường ít đáp ứng với các thuốc bôi tại chỗ vì thuốc khó tiếp cận được tới tổn thương. Vì vậy, bác sĩ có thể thực hiện một số phương pháp sau:
Nếu bạn phát triển ung thư miệng họng thì sẽ có nhiều giải pháp điều trị, tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh, vị trí của khối u và nó có liên quan đến HPV hay không. Những bệnh nhân bị ung thư miệng họng có HPV dương tính sẽ có tiên lượng tốt hơn và ít nguy cơ tái phát so với các trường hợp ung thư không do HPV. Các biện pháp điều trị bao gồm hóa trị, xạ trị, phẫu thuật hoặc phối hợp các phương pháp.
Phòng bệnh
Hầu hết các cơ quan y tế không khuyến cáo sàng lọc HPV miệng. Thay đổi lối sống có thẻ là một trong những phương pháp dễ dàng nhất để phòng HPV.
Dưới đây là một số mẹo mà bạn có thể áp dụng:
Vaccin
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?
Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.