Ung thư vú là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ. Theo ước tính, có khoảng 224.147 phụ nữ ở Mỹ bị chẩn đoán mắc ung thư vú vào năm 2012.
Có nhiều yếu tố nguy cơ được cho là có thể dẫn đến ung thư vú, bao gồm dậy thì sớm, giai đoạn mãn kinh muộn và có con khi ngoài 30 tuổi.
Một số nghiên cứu còn chứng minh rằng mật độ vú cao cũng là một nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Tuy nhiên, cơ chế hiện vẫn chưa được làm sáng tỏ.
Mật độ vú là thuật ngữ dùng khi số lượng các mô sợi và tuyến tại vú cao hơn so với mô mỡ.
Khác với quan niệm thông thường, mật độ vú không thể đánh giá được bằng cách sờ nắn. Nói cách khác, nếu khi sờ vào vú bạn thấy cảm giác cứng thì điều đó cũng không đồng nghĩa với mật độ vú cao.
Tại sao mật độ vú lại trở nên dày hơn
Nhà khoa học Seungyoun và giáo sư Joanne Dorgan thuộc khoa dịch tễ và y tế cộng đồng tại đại học y Maryland đã tiến hành một nghiên cứu để về các yếu tố thuộc về dinh dưỡng có ảnh hưởng thế nào đến mật độ vú.
Tuyến vú là cơ quan khá nhạy cảm với các yếu tố thuộc về ngoại cảnh trong suốt thời kỳ thiếu niên. Đây cũng là thời điểm mô vú đang trong giai đoạn phát triển và trải qua sự thay đổi về mặt cấu trúc. Vì lý do đó, các nhà khoa học muốn tập trung nghiên cứu trên giai đoạn phát triển quan trọng thành thiếu nữ này.
Nhóm nghiên cứu sử dụng các số liệu từ một nghiên cứu can thiệp dinh dưỡng trên trẻ em (DISC). DISC là một thử nghiệm lâm sàng bắt đầu thực hiện từ năm 1988, bao gồm 301 bé gái tuổi từ 8-10 với mục tiêu chính là đánh giá chế độ dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu qua từng năm.
Nghiên cứu tiếp nối của DISC được tiến hành khi đối tượng tham gia được 25-29 tuổi. Nghiên cứu đã đánh giá mật độ vú của 177 phụ nữ sử dụng phương pháp chụp hình ảnh phổ cộng hưởng từ (MRI).
Trước khi tiến hành phân tích kết quả, Jung và giáo sư Dorgan đã điều chỉnh các biến số bao gồm tỷ lệ sống sót, cân nặng khi trưởng thành, chủng tộc, trình độ học vấn, tổng lượng protein và năng lượng nạp vào.
Sau khi đã xem xét tất cả các yếu tố nêu trên, kết quả cho thấy những thiếu niên tiêu thụ tỷ lệ các chất béo bão hòa cao và tiêu thụ ít các chất béo chưa bão hòa đơn và đa sẽ có mật độ vú cao hơn (dense breast volume – DBV).
Mối liên quan giữa chất béo bão hòa và mật độ vú cao
Những phụ nữ mà lượng mỡ tiêu thụ được xếp vào nhóm cao nhất có mật độ vú khoảng 21.5%, trong khi những phụ nữ thuộc nhóm thấp nhất có mật độ vú chỉ khoảng 16.4%.
Một kết quả tương tự nhưng ngược lại được quan sát thấy ở nhóm tiêu thụ lượng chất béo chưa bão hòa đơn. Những phụ nữ tiêu thụ ít chất béo không bão hòa đơn nhất có mật độ vú cao nhất.
Theo giáo sư Joanne Dorgan, có một sự gia tăng theo tỷ lệ thuận nguy cơ mắc ung thư vú khi mật độ vú tăng cao khi quan sát sự khác nhau về phần trăm chỉ số DBV trong nghiên cứu. Nếu được xác nhận là chính xác, nghiên cứu này sẽ dấy lên mối quan tâm về những yếu tố có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư vú về sau.
Tuy nhiên nghiên cứu này cũng có một số hạn chế như cỡ mẫu nghiên cứu tương đối nhỏ và các đối tượng chủ yếu là phụ nữ da trắng. Do vậy, cần tiến hành thêm những khám phá trong tương lai để xác nhận lại kết quả này.
Một vấn đề cần nhấn mạnh ở đây là những thực phẩm mà những trẻ ở độ tuổi vị thành niên tiêu thụ có thể làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư vú trong 15 năm sau.
Một chế độ ăn giàu chất béo đã được chứng minh là có thể gây ra rất nhiều các vấn đề về sức khỏe như béo phì, bệnh tim mạch và tiểu đường, giờ đây ung thư vú có thể cũng sẽ được đưa vào danh sách này.
Xét một cách tích cực thì những khám phá mới này đã cung cấp thêm những thông tin quý giá để giúp phòng ngừa trong một số trường hợp ung thư vú. Theo giáo sư Dorgan: “Kết quả của chúng tôi đặc biệt thú vị và hữu ích bởi chế độ dinh dưỡng trong thời kỳ thanh thiếu niên là có thể thay đổi được, trong khi những yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư vú khác như độ tuổi bắt đầu có kinh nguyệt, số lượng và thời điểm mang thai thường ít có khả năng can thiệp.”
Một yếu tố dinh dưỡng khác cũng được cho là có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú là tiêu thụ nhiều đồ uống chứa cồn khi trưởng thành. Mặc dù những kết quả nghiên cứu này có thể gây hoang mang ít nhiều cho cộng đồng nhưng càng có thêm những thông tin khoa học về ung thư vú, các nhà khoa học càng có thêm cơ sở để khám phá ra những phương pháp điều trị mới đối với căn bệnh đáng sợ này.
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.