Cùng với sự phát triển của trẻ, việc mọc răng sớm hay muộn vài tháng ở trẻ cũng là điều bình thường. Nguyên nhân trẻ chậm mọc răng có thể do một số yếu tố như trẻ sinh non, nhẹ cân, chế độ ăn của trẻ chưa hợp lý hoặc chế độ ăn của mẹ kiêng khem quá mức...
Tuy nhiên, điều quan trọng là chăm sóc răng miệng cho trẻ cần bắt đầu ngay từ khi trẻ mọc răng sữa - là những chiếc răng mọc trong thời kỳ bú mẹ (dưới 30 tháng) còn được gọi là răng tạm thời rồi được thay thế bằng răng vĩnh viễn.
Công dụng của răng sữa
Răng sữa bắt đầu hình thành và cấu tạo từ trong bào thai và tiếp tục phát triển sau khi trẻ sinh ra. Răng sữa đầu tiên mọc lúc 6-8 tháng tuổi, sau đó trung bình cứ 4 tháng sẽ mọc các răng tiếp theo.
Số lượng răng sữa đầy đủ là 20 cái (10 cái hàm trên và 10 cái hàm dưới) khi bé được 24-30 tháng. Mỗi hàm gồm 2 răng cửa giữa, 2 răng cửa bên, 2 răng nanh, 2 răng hàm nhỏ, 2 răng hàm lớn.
Răng sữa có công dụng giúp tiêu hóa thức ăn vì sau 6 tháng tuổi trẻ bắt đầu ăn thức ăn bổ sung đa dạng; nhờ có răng, trẻ có thể nhai, cắn thức ăn, giúp cho xương hàm phát triển bình thường.
Thông thường, một răng sữa mọc lên và đứng trên cung hàm. Sau đó chân răng bắt đầu tiêu dần, nhường chỗ cho một mầm răng vĩnh viễn trồi lên ngay đúng vị trí đó. Nếu răng sữa bị hỏng sớm phải nhổ khi chưa đến lúc, mầm răng vĩnh viễn bên dưới chưa lớn kịp nên không mọc ngay được, lỗ nhổ răng đó bị bịt lại và cứng chắc, khi mầm răng vĩnh viễn mọc lên sẽ khó khăn, mọc chậm và đôi khi mọc lệch.
Răng sữa giữ chỗ trên xương hàm cho các răng vĩnh viễn sau này mọc lên đúng chỗ, đều và đẹp. Mặt khác, nếu răng sữa bị hỏng sớm phải nhổ, trẻ có thể nói ngọng... Như vậy, răng sữa đóng vai trò lớn trong việc tiêu hóa, phát âm và vẻ đẹp hình thể của trẻ sau này.
Chăm sóc răng miệng đúng cách cho trẻ
Thói quen ăn uống và chăm sóc răng miệng không đúng cách ở răng sữa có thể ảnh hưởng tới mầm răng vĩnh viễn. Do đó, cha mẹ cần chăm sóc răng sữa của trẻ thật cẩn thận. Khi bé mới mọc răng, chưa biết cách súc miệng, cha mẹ có thể cho bé uống nước sau ăn để tráng miệng. Dùng gạc quấn quanh ngón tay nhúng vào nước sạch để lau miệng, răng, lợi cả bên trong lẫn bên ngoài cho trẻ.
Trẻ nhỏ thường thích mút tay hoặc ngậm ti giả, trẻ sẽ không cho đồ chơi vào miệng hoặc ngủ ngon nên các bậc cha mẹ yên tâm và không chú ý nhưng trong thực tế, khi còn bé, nhìn bên ngoài xương hàm của trẻ giống như một khối liền với lợi và được mô mềm che phủ, thực ra bên trong có thể các xương hàm chưa ráp nối xong còn hở ở đường giữa.
Đây chính là điểm yếu của xương. Khi trẻ mút tay hay ngậm ti giả động tác mút sẽ đẩy các xương hàm chưa liền thành một khối ra phía trước gây hô xương và có thể làm hô răng rất xấu.
Sau khi răng đã hình thành, việc dạy cho trẻ tự biết chăm sóc răng miệng là một việc làm cần thiết để phòng tránh các bệnh răng miệng, đặc biệt là sâu răng. Đánh răng kỹ hằng ngày: đánh răng sau bữa ăn hoặc sau khi ăn đồ ngọt. Ngay cả khi cho trẻ ăn đêm bằng sữa bột phải súc miệng bằng nước lọc nếu không trẻ sẽ bị sâu răng. Qua một đêm, lượng bột, đường trong miệng sẽ lên men và làm hư men răng.
Lời khuyên của thầy thuốc
Phải chọn bàn chải có lông mềm, kích cỡ phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Thuốc đánh răng dành cho trẻ em. Ðánh răng đúng cách là đánh từ trên xuống dưới theo chiều dọc thân răng, không đánh răng theo chiều ngang từ bên này sang bên kia.
Xoay tròn bàn chải và đánh kỹ tất cả các mặt răng, cả trong lẫn ngoài, cả trên lẫn dưới; Khám răng định kỳ cho trẻ ở các cơ sở y tế 6 tháng/lần để phát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh lý về răng miệng ở trẻ; Cần chú ý tuổi thay răng sữa của trẻ để nhổ răng đúng tuổi, tránh mọc lệch lạc răng vĩnh viễn. Mỗi răng sữa có tuổi thay răng khác nhau. Răng sắp thay có dấu hiệu lung lay, lợi xung quanh không phù nề. Chú ý: 2 răng số 6 hàm dưới là răng vĩnh viễn đầu tiên của trẻ do đó cần chăm sóc cẩn thận.
Bên cạnh đó, điều quan trọng là chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp trẻ có thể lực tốt, điều trị kịp thời các bệnh viêm nhiễm vùng hầu họng là góp phần dự phòng các bệnh về răng miệng cho trẻ.
Trong bối cảnh hiện đại, những thông điệp về chăm sóc sức khỏe tim thần thường gắn liền với những thay đổi mang tính hệ thống như: cai nghiện mạng xã hội hoàn toàn, thiết lập chế độ tập luyện khắc nghiệt hay thay đổi toàn bộ nhịp sinh học. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chính áp lực từ tư duy "tất cả hoặc không có gì" này lại trở thành rào cản tâm lý, khiến chúng ta dễ cảm thấy quá tải.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.