Theo bác sĩ Lim Hong Liang, Trung tâm ung thư PCC, Singapore, ung thư đầu và cổ là căn bệnh rất phổ biến. Đây là nhóm ung thư phát sinh ở mũi, lưỡi, má, họng, amidan, thanh quản, tuyến nước bọt và tuyến giáp. Tùy vào vị trí phát sinh ung thư mà triệu chứng biểu hiện khác nhau:
Ung thư mũi: Ở giai đoạn sớm, triệu chứng thường gặp là viêm xoang mạn tính không đáp ứng với điều trị bằng kháng sinh, xuất huyết mũi, nhức đầu triền miên, sưng mắt, đau hàm trên, có vấn đề với răng giả.
Ung thư thanh quản: Bệnh nhân bị thay đổi giọng nói, cảm giác khó nuốt.
Ung thư lưỡi, má, họng, amidan: Loét không lành kéo dài trên vài tuần, xuất huyết từ vết loét, máu trong đàm, đau tai kéo dài, khó nuốt.
Ung thư tuyến nước bọt: Có khối u hoặc sưng ở vùng mặt, cổ và miệng, cảm giác tê một phần mặt, yếu cơ mặt một bên.
Phương pháp để chẩn đoán ung thư là sinh thiết. Ngày nay, nhiều bệnh ung thư đầu và cổ có thể được chữa khỏi nhờ phát hiện sớm và điều trị triệt để gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị.
Ở góc độ khác, bác sĩ trị liệu ngôn ngữ Tan Hui Yong tại Trung tâm phục hồi chức năng Mount Elizabeth, lưu ý bệnh lý ung thư đầu - cổ và quá trình điều trị thường gây biến đổi về giọng nói, ngôn ngữ và khả năng nuốt, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống cũng như khả năng hoạt động xã hội của bệnh nhân. Cần có bác sĩ trị liệu ngôn ngữ giúp người bệnh dễ dàng đối mặt với những khó khăn, đồng thời có biện pháp trị liệu khắc phục vấn đề liên quan tới giọng nói, ngôn ngữ và chức năng nuốt.
Thông thường, bác sĩ trị liệu ngôn ngữ làm công tác tâm lý và can thiệp với bệnh nhân trước, trong và sau khi điều trị để giữ cho họ khả năng giao tiếp và nuốt càng bình thường càng tốt. Trường hợp bắt buộc phải cắt bỏ thanh quản, bệnh nhân bị mất khả năng nói bằng miệng thì có phương pháp thay thế khác như dùng các thiết bị trợ giúp giao tiếp bên ngoài.
Bác sĩ hướng dẫn người bệnh phương pháp nói từ thực quản (nói bằng cách đẩy không khí tới ống dẫn thức ăn), hoặc dùng thanh quản nhân tạo điện tử có khả năng phát ra ra âm thanh. Một số trường hợp được lắp giả khí thực quản (TEP), bệnh nhân nói qua chiếc van nhỏ một chiều để chuyển không khí từ khí quản tới họng.
Tình trạng phổ biến của bệnh nhân sau điều trị ung thư đầu và cổ là chứng khó nuốt, khó ăn và uống. Các cơ đảm nhiệm chức năng nuốt có thể bị yếu và giảm khả năng chuyển động do tác dụng phụ của hóa xạ trị hay bị sẹo sau khi xạ trị.
Tình trạng này khiến cho bệnh nhân ăn lâu hơn, khó nuốt thực phẩm khô, thức ăn dính trong họng sau khi nuốt, thức ăn hay chất lỏng chảy ra từ mũi, ho và nghẹn trong khi hay sau khi nuốt. Nếu không được điều trị, bệnh nhân có thể suy dinh dưỡng và mất nước, nặng thì viêm phổi và bệnh phổi mạn tính.
Ngoài những triệu chứng trên, nhiều bệnh nhân ung thư còn bị mất hứng thú ăn uống và trầm cảm, tách biệt khỏi xã hội. Để khắc phục tình trạng này, bác sĩ trị liệu ngôn ngữ sẽ đánh giá khả năng nuốt, có thể chỉ định làm nội soi hầu họng.
Dựa vào thể trạng từng bệnh nhân, bác sĩ đưa ra lời khuyên để có những điều chỉnh thích hợp, chẳng hạn như thay đổi tư thế, chế độ ăn hoặc dùng mẹo để nuốt. Nếu bệnh nhân không thể nuốt an toàn dù đã áp dụng các phương pháp phục hồi, bác sĩ cân nhắc đến phương pháp cho ăn thay thế kết hợp với trị liệu phục hồi các cơ nuốt cho người bệnh.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh nhân được điều trị ngôn ngữ và khả năng nuốt trước khi xạ trị có kết quả tốt hơn trong việc duy trì cấu trúc cơ và chức năng nuốt.
Để đạt được hiệu quả tối ưu, các bác sĩ khuyên người bệnh nên bắt đầu quá trình trị liệu xuyên suốt từ trước, trong và sau khi điều trị ung thư. Thực tế, việc can thiệp cải thiện khả năng ngôn ngữ và chức năng nuốt triển khai từ trước khi điều trị ung thư giúp duy trì chức năng cơ và cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân về sau.
Trong xã hội hiện đại, phụ nữ thường phải đối mặt với áp lực lớn khi vừa khẳng định sự nghiệp vừa gánh vác trách nhiệm gia đình, dễ dẫn đến tình trạng kiệt sức và bất ổn tâm lý. Nhằm giúp phái đẹp bảo vệ nền tảng tư duy và cảm xúc, Viện y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về việc xây dựng các thói quen lành mạnh mỗi ngày. Đây chính là giải pháp thiết thực để cải thiện chất lượng sống, đồng thời tạo nên "tấm khiên" vững chắc giúp chị em phụ nữ duy trì sự cân bằng và vượt qua những biến động trong cuộc sống
Các loại hạt giàu omega-3 và chất béo không bão hòa giúp cải thiện cholesterol máu, giảm viêm và bảo vệ thành mạch. Bổ sung hợp lý trong khẩu phần ăn hằng ngày có thể góp phần phòng ngừa bệnh tim mạch.
Sức khỏe phụ nữ là nền tảng quan trọng cho hạnh phúc gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội. Người phụ nữ hiện đại không chỉ đảm đương vai trò kinh tế mà còn gánh vác trách nhiệm chăm sóc gia đình, điều này vô tình tạo ra những áp lực lớn lên cả thể chất lẫn tinh thần. Việc trang bị kiến thức về các vấn đề sức khỏe thường gặp là bước đi tiên quyết để chị em chủ động bảo vệ bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Trong bài viết dưới đây, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp chị em có cái nhìn tổng quan và khoa học nhất về vấn đề này.
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.