Các giai đoạn hồi phục của vết bầm tím
Các vết bầm tím hồi phục như thế nào?
Vết bầm tím thường là kết quả của một tình trạng va đập ngoài da gây vỡ các mao mạch (là các mạc máu rất nhỏ nằm ngay dưới bề mặt da). Các mao mạch bị vỡ sẽ khiến máu bị rò rỉ vào các mô xung quanh, gây căng tức và đổi màu vùng dưới da.
Khi vết bầm tím hồi phục lại cũng đồng nghĩa với việc cơ thể đang hấp thu lại lượng máu đã bị rò rỉ ra. Đó là lý do tại sao màu sắc của vết bầm tím lại đổi màu. Trên thực tế, dựa vào màu sắc của vết bầm tím bạn có thể đoán được bạn đã bị bầm tím trong bao lâu và bạn đang ở trong giai đoạn nào của quá trình hồi phục.
Các giai đoạn đổi màu của vết bầm tím
Từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi biến mất hoàn toàn, một vết bầm tím thường sẽ kéo dài trong vòng 2-3 tuần. Một vài vết bầm tím khác có thể sẽ kéo dài hơn khoảng thời gian này. Một số vị trí trên cơ thể, đặc biệt là các chi như cánh tay và chân, có thể sẽ lâu lành hơn.
Dưới đây là những gì bạn cần biết về các giai đoạn đổi màu của vết bầm tím. Bạn cũng cần phải nhớ rằng, sự thay đổi màu sẽ diễn ra rất từ từ và có rất nhiều sắc thái màu khác nhau biểu hiện trong từng giai đoạn.
Hồng và đỏ
Ngay sau khi va chạm, ví dụ như bị ngã cầu thang hoặc đập cánh tay vào cửa, tại vị trí bị va đập có thể sẽ có màu hơi hồng hoặc đỏ. Bạn cũng có thể sẽ nhận thấy vùng quanh vết bầm tím có thể hơi sưng và căng khi chạm vào.
Xanh lam và tím sẫm
Sau khoảng hơn 1 ngày va đập, vết bầm tím sẽ có màu sẫm hơn và chuyển sang màu xanh lam hoặc tím đậm. Nguyên nhân là do tình trạng thiếu oxy cung cấp tới vị trí bị và đập và tình trạng sưng tại đây. Giai đoạn tối màu này có thể kéo dài trong khoảng 5 ngày sau khi bị va đập.
Xanh lá nhạt
Vào ngày thứ 6 sau khi bị va đập, vết bầm sẽ bắt đầu chuyển dần sang sắc xanh lá cây. Đây là dấu hiệu cho tháy hemoglobin trong máu đang bị phá hủy, đồng nghĩa với việc quá trình hồi phục đang bắt đầu.
Vàng và nâu
Vào ngày thứ 7 đến ngày thứ 9 sau khi bị va đập, vết bầm tím sẽ chuyển sàng màu vàng sáng hoặc màu nâu sáng. Đây là giai đoạn cuối cùng khi cơ thể hấp thu ngược lại lượng máu bị rò rỉ ra. Sau giai đoạn này, vết bầm của bạn sẽ không đổi màu nữa và sẽ dần dần mờ đi và biến mất hoàn toàn.
Khi nào nên lo lắng về vết bầm?
Trong một số trường hợp, vết bầm sẽ không đổi màu và thậm chí có vẻ còn không có dấu hiệu là đang lành lại. Vết bầm cứng khi chạm vào, phát triển ngày một lớn hơn hoặc ngày càng trở nên đau đớn hơn có thể là dấu hiệu cho thấy tình trạng tụ máu đang hình thành.
Tụ máu là tình trạng một cục máu hình thành ở dưới da hoặc trong cơ. Thay vì quá trình hồi phục như đã mô tả ở trên, cục máu tụ sẽ hình thành và gây chèn ép lên các phần xung quanh của cơ thể. Trong trường hợp này, bạn sẽ cần sự trợ giúp của bác sỹ để hút bớt máu từ cục máu tụ ra.
Ngoài ra, còn có một nguyên nhân khác khiến vết bầm tím không biến mất đó là do sự cốt hóa lạc chỗ (heterotopic ossification). Tình trạng này sẽ xảy ra khi cơ thể hình thành các mảng bám canxi xung quanh vị trí bầm tím. Việc này sẽ làm vết bầm tím căng tăng và cứng khi chạm vào. Bạn có thể sẽ cần phải tiến hành chụp X quang để chẩn đoán tình trạng cốt hóa lạc chỗ này.
Bạn cũng nên đến gặp bác sỹ nếu bạn nhận thấy các dấu hiệu dưới đây:
Nếu bạn có bất cứ lo ngại nào về vết bầm tím của mình, kể cả khi đó là những triệu chứng không được liệt kê ở trên, bạn cũng nên đến gặp bác sỹ ngay lập tức.
Có thể giúp vết bầm tím mau lành hơn không?
Trong khi gần như bạn không thể dự phòng được vết bầm tím, nhưng bạn có thể thực hiện một số cách để đẩy nhanh quá trình hồi phục tại nhà.
Kết luận
Vết bầm tím sẽ đổi rất nhiều màu trong quá trình hồi phục. Hiểu được mỗi màu sắc có ý nghĩa gì sẽ giúp bạn biết được bạn chỉ bị bầm tím thông thường hay đó là dấu hiệu của một vấn đề sức khỏe khác nghiêm trọng hơn.
Thông tin thêm trong bài viết: Những mẹo nhỏ xóa tan vết bầm tím trên cơ thể
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?
Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.