Tầm quan trọng của các biện pháp hỗ trợ dinh dưỡng với người bệnh ung thư
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng chỉ cần sụt 5% cân nặng đã rút ngắn 1/3 thời gian sống của bệnh nhân. Tình trạng phổ biến trên đa số bệnh nhân ung thư hiện nay chính là suy kiệt cơ thể. Đây có thể là phản ứng phụ của quá trình điều trị hoặc do tâm lý chán nản, lo lắng của người bệnh nhưng phần nhiều là do chính khối u gây ra.
Khối u làm thay đổi chuyển hoá bình thường của cơ thể, làm cơ thể tiêu hao năng lượng nhiều hơn, các tế bào, mô của cơ thể bị phá huỷ, bao gồm cả các khối cơ. Nhiều bệnh nhân không thể theo hết được các liệu pháp điều trị do cân nặng và thể lực bị suy giảm trầm trọng. Điều này ảnh hưởng lớn tới hiệu quả điều trị và làm giảm thời gian sống của người bệnh. Đồng thời, nó cũng làm tăng tỷ lệ biến chứng, nhiễm trùng và dẫn đến tử vong của bệnh nhân ung thư.
Bệnh nhân ung thư chết vì suy kiệt cơ thể trước khi chết vì khối ung thư đã phần nào cho thấy tác động xấu của tình trạng sút cân, suy kiệt. Dinh dưỡng lúc này có tác dụng nâng đỡ để người bệnh có đủ sức theo được hết các liệu pháp điều trị nặng nề. Việc xây dựng một chế độ dinh dưỡng hợp lý trước, trong và sau quá trình điều trị đều nhằm đến mục tiêu là tăng cường thể lực cho bệnh nhân. Ăn đúng trước, trong và sau khi điều trị có thể giúp cho bệnh nhân giảm thiểu được những bất lợi do các tác dụng phụ của phương pháp điều trị và giúp bệnh nhân có cảm giác sống khoẻ hơn.
Người bệnh ung thư nên ăn đầy đủ chất dinh dưỡng để cơ thể hồi phục nhanh.
Một số biện pháp hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư
Đối với người bệnh có thể ăn được
Với các trường hợp này, người bệnh vẫn ăn uống được qua đường miệng với mục tiêu là ngăn chặn hoặc phục hồi sự thiếu hụt dinh dưỡng, bảo tồn khối lượng nạc cơ thể, giảm thiểu các tác dụng phụ liên quan dinh dưỡng và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo đó, người bệnh cần được cung cấp đầy đủ một số loại dưỡng chất trong bữa ăn hàng ngày như chất đạm (có nhiều trong các loại thịt, tôm, cua, cá, nhuyễn thể và hải sản...), tinh bột (nên chọn các loại ngũ cốc nguyên hạt như gạo, ngô, lúa mì, hạt lúa mạch, các loại củ như khoai tây, khoai lang, khoai sọ, sắn...). chất béo và rau quả cung cấp vitamin với nhiều cách chế biến khác nhau tùy theo khẩu vị, sở thích để người bệnh ăn được nhiều hơn.
Ngoài ra, cần tránh các loại thực phẩm chế biến sẵn chứa đường đơn, gây nhiều tác hại cho cơ thể, đồng thời các chất phụ gia cho thêm vào thực phẩm trong quá trình chế biến và bảo quản cũng là một trong những nhân tố góp phần làm tăng tỉ lệ bệnh ung thư.
Hướng dẫn người bệnh ung thư lựa chọn các loại thực phẩm tốt cho cơ thể.
Đối với người bệnh không thể ăn bằng đường miệng
Với các trường hợp này, cần thực hiện dinh dưỡng đường ruột. Nếu trong thời gian ngắn, dưới 30 ngày thường sử dụng ống thông mũi-dạ dày, nếu thời gian dài hơn nên sử dụng mở dạ dày qua da (percutaneous gastrostomies).
Lựa chọn cách nuôi dưỡng thường dựa vào: Tình trạng bệnh, nguy cơ hít sặc, chức năng/giải phẫu đường tiêu hóa, ước tính thời gian can thiệp phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Thành phần dịch nuôi: Dựa vào nhu cầu năng lượng đảm bảo đủ 30-35Kcalo/kg cân nặng hiện tại/ngày. Tùy theo mỗi bệnh nhân khác nhau, tùy theo mỗi loại ung thư khác nhau mà xây dựng thành phần dịch nuôi khác nhau nhưng cần đảm bảo chất dinh dưỡng hạn như protein, chất béo hoặc carbohydrate... hoặc được sử dụng riêng lẻ để điều trị sự thiếu hụt đặc biệt để đáp ứng toàn bộ nhu cầu dinh dưỡng... Cần chú ý là các nuôi dưỡng qua ống sonde thường được thực hiện tại bệnh viện để đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chất lượng dinh dưỡng và độ an toàn cho người bệnh.
Một chế độ ăn uống phù hợp đủ dinh dưỡng và năng lượng là rất quan trọng giúp nâng cao sức khỏe, chất lượng điều trị và chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư. Bệnh nhân nên đến khám bác sỹ chuyên khoa ung thư để được tư vấn cụ thể về chế độ dinh dưỡng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Sai lầm thường gặp khi điều trị ung thư bằng y học cổ truyền.
Người bị vảy nến nên bổ sung các loại thực phẩm chống viêm, giàu vitamin đồng thời hạn chế những thực phẩm có khả năng khiến bệnh phát triển, góp phần kiểm soát tốt bệnh và giúp làn da đẹp mịn màng hơn.
Đẻ mắc vai hay còn gọi là dấu hiệu “con rùa” - là tình trạng xảy ra khi một hoặc cả hai vai của em bé bị kẹt trong quá trình sinh thường. Không có dấu hiệu báo trước và không có cách nào để ngăn ngừa tình trạng này xảy ra. Nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể bao gồm việc em bé quá lớn, xương chậu của mẹ nhỏ hoặc đỡ đẻ sai tư thế. Tình trạng này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng bao gồm cả chấn thương thần kinh cho em bé. Cùng đọc bài viết sau để hiểu thêm về tình trạng này!
Tầm vóc không chỉ là thước đo chiều cao đơn thuần mà còn phản ánh sức khỏe và sự phát triển toàn diện của một dân tộc. Tuy nhiên, thực trạng chiều cao của người Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế so với bạn bè quốc tế
Mùa xuân đến, mang theo không khí ấm áp và sức sống mới cho vạn vật. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm giao mùa, khí hậu biến đổi thất thường, tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn, virus và mầm bệnh sinh sôi phát triển.
Ngày 2 tháng 4 hàng năm, thế giới cùng hướng về Ngày Thế Giới Nhận Thức về Tự Kỷ – một sự kiện do Liên Hợp Quốc khởi xướng nhằm kêu gọi sự quan tâm sâu sắc hơn đến rối loạn phổ tự kỷ (ASD).
Mùa xuân là thời điểm giao mùa, khí hậu thất thường, hanh khô, độ ẩm thấp, dễ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến làn da nhạy cảm của trẻ nhỏ.
Tuổi mãn kinh không chỉ gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe sinh lý nữ, mà còn ảnh hưởng đến làn da. Chị em phụ nữ nên lưu ý điều gì khi chăm sóc da tuổi ngoài 40?
Giao mùa là thời điểm chuyển tiếp giữa các mùa trong năm, kéo theo sự thay đổi của thời tiết, khí hậu. Đối với người cao tuổi, giai đoạn này thường tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe do hệ miễn dịch suy giảm và cơ thể dần lão hóa.