Bệnh phụ khoa tái phát vì sợ đi khám
Viêm nhiễm phụ khoa là một căn bệnh này thường tái đi tái lại, thậm chí nó trở thành một nỗi ám ảnh của nhiều chị em phụ nữ. Theo BS. Lê Thị Kim Dung- Khoa Sản, Bệnh viện Bộ Nông nghiệp, nguyên nhân trên là do hiện nay việc quan hệ tình dục trở nên cởi mở hơn, đặc biệt là những chị em ở thành phố có thái độ quan hệ tình dục thoải mái hơn. Tỷ lệ phụ nữ ở nông thôn bị viêm nhiễm bệnh phụ khoa ít hơn ở thành phố là vì thế. Phụ nữ nông thôn thường có quan niệm khắt khe hơn trong đời sống tình dục, chỉ có một vợ một chồng là chính, đây chính là yếu tố làm hạn chế lây nhiễm các bệnh viêm nhiễm phụ khoa.
Viêm nhiễm do nấm phổ biến nhất, hay tái phát nhất là nấm âm đạo. Ví dụ bệnh nhân bị chlamydia chẳng hạn, bác sĩ sẽ điều trị phác đồ cho cả vợ và chồng sẽ hết. Nhưng vấn đề nấm âm đạo, rất dễ tái phát chỉ cần thay đổi môi trường, yếu tố toàn thân không tốt, dịch tiết không tốt, môi trường âm đạo không thích hợp nấm dễ tiến triển. Hoặc dùng thuốc không đúng chỉ định cũng sẽ bị bệnh, ví dụ dùng kháng sinh nhiều nấm dễ phát triển hơn... Một khi môi trường âm đạo không cải thiện đúng mức thì sẽ bị tái đi tái lại. Vì vậy, bí quyết để không mắc bệnh hoặc không để bệnh tái phát là khám phụ khoa định kỳ 6 tháng 1 lần hoặc 1 năm một lần, việc tái đi tái lại không trở nên phổ biến.

Chia sẻ về những ảnh hưởng đối với sức khỏe của người phụ nữ và hậu quả khi bị viêm nhiễm phụ khoa nhất là bệnh tái đi tái lại nhiều lần. Bs. CKII Trần Văn Hùng - Nguyên Giảng viên bộ môn Sản, Đại Học Y Hà Nội cho biết: Tùy theo mức độ của bệnh mà sẽ có ảnh hưởng nhất định trong đó, đầu tiên ảnh hưởng tới tâm sinh lý phụ nữ nói chung, cảm thấy bản thân khó chịu ngứa ngáy, thiếu tự tin, đưa đến tình trạng né tránh, ngại, không muốn tiếp xúc quan hệ với chồng, bạn tình giảm đi. Lâu dần giảm khoái cảm tình dục, không còn nhu cầu đó nữa. Nếu nặng hoặc viêm nhiễm kéo dài, tái đi tái lại dẫn đến viêm nhiễm lan vào bộ phận bên trong như tử cung, vòi trứng... và có thể dẫn đến vô sinh. Hoặc khi có thai được nhưng ảnh hưởng tới quá trình thai kỳ, tai biến sản khoa, có thể dẫn đến chửa ngoài tử cung, không làm di chuyển phôi sau khi thụ thai vào tử cung, gây tắc nghẽn ở vòi tử cung.
Tai biến muộn hơn có thể dọa sẩy thai, thai chết lưu... Giai đoạn muộn hơn đưa đến tình trạng thai kém phát triển, viêm màng ối đến đa ối, thiểu ối, muộn nữa có thể gây ra sinh non... Ảnh hưởng tới cuộc đẻ, viêm nhiễm tiềm ẩn sau khi đẻ có thể gây nhiễm khuẩn hậu sản kèm theo. Có trường hợp có thể gây ra nhiễm trùng tử cung, nặng nhất là viêm phúc mạc sau khi đẻ. ..Chính vì vậy, việc phát hiện và điều trị dứt điểm viêm nhiễm phụ khoa là vô cùng cần thiết để bảo vệ sức khỏe của người phụ nữ.
Bs. Lê Thị Kim Dung khuyến cáo, khi thấy có các triệu chứng như đau, rát, tiết dịch nhiều hôi, làm cho phụ nữ không tự tin, khí hư có màu xanh, vàng hoặc mủ, quần lót bẩn ... cần tới cơ sở y tế để được khám và tư vấn cụ thể. Bệnh viêm nhiễm phụ khoa sẽ ảnh hưởng cả tới đời sống vợ chồng, thậm chí ảnh hưởng tới thai nhi khi người phụ nữ mang thai, kể từ lúc bắt đầu có thai đến cả lúc đứa trẻ ra đời. Nếu bộ phận sinh dục bị nhiễm bệnh, gây ra nhiều vấn đề với sức khỏe của phụ nữ do đó phụ nữ chúng ta cần thay đổi tư duy về chăm sóc phụ khoa, không nên xem nhẹ để bệnh tiến triển nặng hơn và cần điều trị dứt điểm để tránh tái phát nhiều lần, BS Lê Thị Kim Dung nhấn mạnh.
Có rất nguyên nhân dẫn đến tình trạng viêm nhiễm phụ khoa, trong đó phải kể đến các nguyên nhân bao gồm: Viêm nhiễm có thể do vệ sinh và môi trường, điều kiện sống kém; Lây truyền qua đường tình dục; Do can thiệp của phẫu thuật và thủ thuật sản khoa, phụ khoa chẳng hạn như đặt dụng cụ tử cung tránh thai, nạo hút thai không an toàn...; Do vấn đề là sử dụng kháng sinh không phù hợp, lạm dụng kháng sinh, thuốc điều trị không đến nơi đến chốn, dẫn đến kháng thuốc. Cách điều trị không phù hợp làm bệnh tái đi tái lại. Và cuối cùng là do suy giảm miễn dịch và suy giảm nội tiết. Suy giảm miễn dịch do bệnh lý toàn thân như suy sụp, do ăn uống kém, bệnh lý mạn tính,.... Suy giảm nội tiết do tuổi cao, sau mãn kinh...
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Phụ nữ làm thế nào để phòng ngừa viêm âm đạo?
Các loại hạt giàu omega-3 và chất béo không bão hòa giúp cải thiện cholesterol máu, giảm viêm và bảo vệ thành mạch. Bổ sung hợp lý trong khẩu phần ăn hằng ngày có thể góp phần phòng ngừa bệnh tim mạch.
Sức khỏe phụ nữ là nền tảng quan trọng cho hạnh phúc gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội. Người phụ nữ hiện đại không chỉ đảm đương vai trò kinh tế mà còn gánh vác trách nhiệm chăm sóc gia đình, điều này vô tình tạo ra những áp lực lớn lên cả thể chất lẫn tinh thần. Việc trang bị kiến thức về các vấn đề sức khỏe thường gặp là bước đi tiên quyết để chị em chủ động bảo vệ bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Trong bài viết dưới đây, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp chị em có cái nhìn tổng quan và khoa học nhất về vấn đề này.
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.
Khi nhắc đến ung thư vú, đa số phụ nữ thường nghĩ ngay đến khối u bất thường.