Sự nhiễm trùng này có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn, ung thư dương vật và một số loại ung thư miệng và cổ họng. Ngoài ra, một số loại HPV có thể gây ra mụn cóc sinh dục hoặc mụn cóc ở những nơi khác trên da.
Mặc dù đây không phải là phương thức lây truyền phổ biến, nhưng bạn có thể nhiễm virus u nhú ở người (HPV) thông qua tiếp xúc bằng tay, chẳng hạn như bằng cách dùng tay chọc hoặc vuốt vào bộ phận sinh dục.
Có ba loại vaccine — Gardasil 9, Gardasil, và Cervarix — có thể làm giảm nguy cơ lây truyền HPV. Tuy nhiên, nhiều người sẽ tiếp xúc với một hoặc nhiều biến thể HPV vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống tình dục của họ. Đó là lý do tại sao điều quan trọng là phải hiểu các phương thức lây truyền khác nhau của những loại virus này.
Virus HPV (Human Papillomavirus) là gì?
Virus HPV là một trong những virus lây nhiễm qua đường tình dục. Virus HPV phổ biến đến mức mà các đối tượng quan hệ tình dục dù là nam hay nữ đều lây nhiễm tại một số thời điểm nào đó trong đời. Có nhiều type HPV khác nhau. Trong đó có một số type có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe như mụn cóc ở cơ quan sinh dục và ung thư cơ quan sinh dục. Tuy vậy, có vaccine đề phòng chống sự lây nhiễm này.
Virus HPV được lây truyền như thế nào?
Bệnh nhân có thể bị lây nhiễm virus HPV khi có quan hệ tình dục (qua đường âm đạo, hậu môn, hoặc đường miệng) với người bị nhiễm virus này. Đây là một trong những virus lây truyền phổ biến nhất qua đường tình dục. Virus HPV có thể lây cho người khác ngay cả khi người nhiễm virus này không có biểu hiện dấu hiệu hay triệu chứng gì.
Bệnh nhân cho dù chỉ có quan hệ tình dục chung thủy với một người thì vẫn có thể bị lây nhiễm loại virus này. Các triệu chứng đầu tiên của bệnh có thể biểu hiện sau khi bị lây nhiễm virus này nhiều năm làm cho khó có thể xác định chính xác bạn đã bị lây nhiễm từ khi nào.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có thể giảm nguy cơ lây truyền HPV khi quan hệ tình dục bằng miệng và giao hợp bằng cách sử dụng bao cao su. Tuy nhiên, mọi người thường tự hỏi liệu các hình thức sinh hoạt tình dục khác cũng có thể mang lại nguy cơ lây truyền HPV không? Dùng ngón tay mà không đeo găng tay có thể khiến ai đó có nguy cơ nhiễm HPV không?
Vì những lý do thực tế, rất khó để tiến hành một nghiên cứu để xác định nguy cơ lây truyền HPV từ việc dùng ngón tay để quan hệ tình dục. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy bạn có thể bị nhiễm HPV từ ngón tay. Đặc biệt hơn, nghiên cứu đã chỉ ra rằng có thể truyền virus HPV từ ngón tay sang bộ phận sinh dục.
Năm 2010, các nhà khoa học từ Đại học Washington phát hiện ra rằng virus HPV có thể được tìm thấy trên đầu ngón tay của một số người phụ nữ. Ngoài ra, virus HPV thường xuyên có cùng loại mà chúng bị nhiễm ở bộ phận sinh dục. Điều này cho thấy rằng HPV đã đi từ ngón tay của họ đến bộ phận sinh dục của họ hoặc ngược lại.
Các xét nghiệm đầu ngón tay dương tính lặp lại rất hiếm. Do đó, các nhà khoa học kết luận rằng ngón tay không có khả năng là nguồn lây truyền HPV chính. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác đã liên kết việc dùng ngón tay với việc tăng nguy cơ nhiễm HPV ở nam giới có quan hệ tình dục đồng giới.
Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng mụn cóc trên ngón tay hoặc bàn tay của bạn có liên quan đến việc tăng nguy cơ nhiễm HPV ở bộ phận sinh dục và trực tràng. Nguy cơ này có thể không cao bằng các loại lây truyền khác, nhưng vẫn khả năng xảy ra.
Nếu bạn có móng tay dài, găng tay vẫn là một lựa chọn. Chỉ cần lót móng tay bằng bông gòn dưới găng tay. Điều đó làm giảm khả năng móng tay của bạn làm thủng găng tay. Găng tay thường được coi là một ý tưởng tốt cho những hoạt động này vì một số lý do khác. Chúng không chỉ bảo vệ chống lại HPV, mà còn có làm giảm sự lây truyền của các vi khuẩn và virus khác có thể sống dưới móng tay.
Cần lưu ý rằng nhiễm HPV có nhiều khả năng tiến triển và tiến triển nhanh nếu bạn mắc một bệnh miễn dịch, như HIV.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Bạn có thể bị nhiễm HPV dù bạn không có mụn cóc
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.