Đặc điểm của bệnh là vi nấm lây lan theo đường bạch huyết, gây các tổn thương dạng cục dọc theo mạch bạch huyết nông. Mùa xuân ẩm ướt, nấm phát triển mạnh nên nguy cơ người mắc bệnh càng cao.
Ai dễ mắc bệnh?
Nấm Sporothrix schenkii (S.schenkii) là một loại nấm lưỡng hình, sống hoại sinh ở đất, lá cây mục, xâm nhập cơ thể người qua da, vết trầy xước trên da, niêm mạc.
Bệnh ở nam nhiều hơn nữ, phần lớn ở độ tuổi lao động. Những người làm ruộng, làm vườn, làm rẫy, thợ mỏ, nhân viên phòng thí nghiệm dễ mắc bệnh.
Tuy nhiên người bình thường cũng có thể mắc bệnh do hít thở, do nuốt phải nấm gây nên nhiễm trùng hệ thống.
Trong gia đình, việc nhiễm Sporotrichosis ở da của mèo cũng lây truyền sang người.
Các yếu tố nguy cơ gây bệnh gồm: mắc bệnh đái tháo đường, nghiện rượu hoặc có bệnh nhiễm HIV, carcinoma, bệnh huyết học, đang điều trị bằng thuốc giảm miễn dịch.
Sau khi xâm nhập mô dưới da, nấm S.schenkii phát triển tại chỗ. Sự nhiễm nấm có thể giới hạn tại vị trí xâm nhập (thể da, plaque sporotrichosis) hoặc phát triển vào các mạch bạch huyết lân cận (thể mạch bạch huyết, lymphangitic sporotrichosis). Một số ít gặp là nấm lan tràn xa hơn ở các chi; lan tràn vào máu gây viêm xương khớp khu trú, tổn thương mắt ở người khỏe mạnh hay gây nhiều ổ tổn thương ở người bị suy giảm miễn dịch. Nấm có thể xâm nhập qua đường hô hấp gây viêm phổi tạo hang nhưng hiếm gặp.
Thủ phạm gây nhiều thể bệnh
Bệnh Sporotrichosis là bệnh nấm duy nhất có thể được chẩn đoán dựa vào bệnh cảnh lâm sàng. Nấm gây nhiều thể bệnh như sau:
Thể da - mạch bạch huyết
Nhiễm nấm bắt đầu ở chi qua vết thương, trầy xước từ 3 ngày đến 12 tuần, bệnh nhân thấy nổi cục gồ lên, kích thước từ vài mm đến vài cm, lúc đầu cứng, không đau, di động, về sau mềm, đau, da trên mặt cục có màu hồng tím, không di động, phù lên và hóa mủ, loét. Nếu hóa mủ thì mủ ít, đặc, trắng, hơi vàng, dần dần nổi lên nhiều cục (các cục không cùng lứa) dọc theo một đường dài, giữa các cục sờ thấy mạch bạch huyết bị viêm cứng. Tuy nhiên bệnh nhân không sốt, không đau, sờ thấy hạch vùng phụ cận.
Thể da
Tổn thương dạng u nhú giống mụn cóc, giống u hạt sinh mủ, không lan ra mạch bạch huyết. Nếu bệnh nhân AIDS nhiễm Sporotrichosis thường có tổn thương da đa dạng nhưng không thường có biểu hiện ở mạch bạch huyết, có thể có nhiễm khuẩn sâu như viêm khớp. Thể này cần phân biệt với lao da, nhiễm Mycobacterium không gây lao, Sarcoidosis, ban giang mai dạng sẩn, viêm da mủ nhiễm khuẩn...
Thể lan tràn
Thể bệnh này thường tiếp theo thể da - mạch bạch huyết hoặc nguyên phát. Triệu chứng biểu hiện của một bệnh cảnh nhiễm nấm huyết: nổi nhiều cục dưới da, cứng, rải rác khắp cơ thể, vi nấm lan tràn đến khớp xương, màng bao xương, tủy xương, màng não, mắt, phổi, thận, cơ quan sinh dục. Trong đó viêm xương khớp hay gặp nhất, thường viêm các khớp lớn ở các chi (bàn tay, khuỷu tay, mắt cá, đầu gối), thường bị một khớp, khớp sưng đau. Chụp phim Xquang thấy hình ảnh mất sụn khớp, phản ứng màng xương.
Thể niêm mạc
Bệnh nhân mắc bệnh nguyên phát hoặc thứ phát sau dạng lan tràn. Tổn thương ở mũi, miệng, họng. Tổn thương là những u nhú dạng mụn cóc, có mủ, loét, dễ nhầm với viêm họng, viêm niêm mạc miệng, viêm lưỡi, viêm mũi, viêm thanh quản. Các hạch lân cận sưng to.
Thể phối nguyên phát
Tuy thể bệnh này ít gặp nhưng nguy hiểm. Bệnh nhân mắc bệnh do hít bào tử nấm vào phổi gây sưng hạch rốn phổi, thâm nhiễm phổi.
Các xét nghiệm cần làm
Nhuộm gram, thấy được vi nấm ở dạng tế bào hạt men hay thể sao tua rua (asteroid body), nhưng phương pháp này ít dùng do vi nấm rất hiếm khi thấy ở tổn thương. Nuôi cấy trong môi trường Sabouraud, ở nhiệt độ phòng thấy nấm mọc nhanh khoảng 3-5 ngày, lúc đầu phẳng mịn như nhung, 10 ngày sau nhăn nheo, màu đen. Nhìn dưới kính hiển vi thấy sợi tơ nấm mảnh mai, có vách ngăn, màu nâu nhạt, phát triển như bụi hoa cúc, có bào đài thật ngắn, có bào tử đính.
Điều trị phải kiên trì
Đối với các thể bệnh thông thường, dùng dung dịch Potassium Iodine (IK) liều tăng dần và cần tiếp tục điều trị thêm 3-4 tuần sau khi các triệu chứng lâm sàng trên da được cải thiện. Có thể khởi đầu với liều thấp, sau tăng dần mỗi 2-3 tuần để tránh các tác dụng phụ của IK như nôn, sưng tuyến mang tai, phát ban dạng mụn trứng cá. Thời gian điều trị 6-12 tuần.
Với thể lan tràn vào máu, sử dụng Itraconazole hàng ngày trong thời gian 6 tháng. Hoặc dùng fluconazole hay terbinafine, trong nhiều tháng. Thuốc amphotericine B truyền tĩnh mạch, có hiệu quả ở thể phổi, thể lan tràn hoặc ở những người thể da - mạch bạch huyết không dung nạp với thuốc uống (theo chỉ định của thầy thuốc). Trong tất cả các trường hợp, việc điều trị cần phải tiếp tục thêm ít nhất 1 tuần sau khi các triệu chứng lâm sàng biến mất.
Lời khuyên của bác sĩ
Trong sinh hoạt, lao động, luyện tập thể dục thể thao, quân sự... cần tránh tiếp xúc với đất, lá cây mục... bằng cách mặc quần áo bảo hộ lao động, đi ủng, đeo găng tay để hạn chế tối đa việc tiếp xúc với đất phòng tránh nhiễm nấm.
Thường xuyên rửa sạch tay chân mỗi khi xong công việc.
Khi bị thương trên da, cần phải rửa sạch vết thương, sát trùng bằng cồn iod, băng kín để tránh nhiễm nấm.
Thường xuyên đeo khẩu trang khi lao động, đi lại để hạn chế hít phải mầm bệnh nói chung và nấm nói riêng.
Tăng cường miễn dịch đúng cách là một lộ trình dài hạn dựa trên việc giảm thiểu stress oxy hóa và duy trì hoạt động ổn định của các tế bào lympho. Các nghiên cứu về dược liệu học gần đây đã chỉ ra rằng, các hợp chất sinh học có trong thảo mộc truyền thống như Kim ngân hoa, Cúc hoa hay Cam thảo không chỉ có khả năng trung hòa gốc tự do mà còn hỗ trợ điều hòa các chất trung gian gây viêm.
Dù cơ thể có thể tự sản sinh vitamin D từ ánh nắng mặt trời nhưng thực phẩm cũng là một nguồn cung cấp vitamin D quan trọng giúp bù đắp sự thiếu hụt vitamin D trong những tháng thiếu nắng mùa đông.
Khi trời trở lạnh, việc đau thần kinh tọa sẽ trở nên vô cùng đau đớn, đôi lúc còn có chuyển biến xấu. Thời tiết lạnh có thể làm các cơ cột sống của bạn co cứng lại, và cơn đau của bạn có thể trầm trọng hơn do áp suất khí quyển và căng thẳng thể chất. May mắn thay, có những bước bạn có thể thực hiện để giúp giảm đau thần kinh tọa.
Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.
Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.