Sự khác nhau giữa khám sức khỏe thông thường và tầm soát ung thư
Khám sức khỏe định kỳ thường bao gồm các xét nghiệm như: xét nghiệm công thức máu, xét nghiệm nước tiểu, điện tim đồ, khám mắt, răng hàm mặt, tai mũi họng, da liễu, vv… nhằm phát hiện các vấn đề về sức khỏe như các bệnh lý về máu, đánh giá chức năng thận, hệ tiết niệu, mỡ máu, tổn thương về cơ tim, rối loạn nhịp tim, vv…. Các bác sĩ thường khuyên chúng ta nên khám sức khỏe định kỳ 6 tháng – 1 năm 1 lần.
Khám tầm soát ung thư thường bao gồm các xét nghiệm đặc biệt, nhằm tìm kiếm những dấu hiệu của ung thư, thường bao gồm: các xét nghiệm máu tìm chất chỉ điểm khối u, xét nghiệm mẫu mô, nước tiểu, xét nghiệm tìm máu trong phân, vv… các chẩn đoán hình ảnh như chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính CT, siêu âm vú, chụp Mammography tuyến vú, nội soi dạ dày, đại tràng, vv…, các xét nghiệm khác như xét nghiệm tế bào cổ tử cung (Pap), xét nghiệm tìm máu trong phân, vv…
Bác sĩ sẽ kiểm tra về các dấu hiệu chung về sức khỏe người bệnh, chẳng hạn như khối u hoặc dấu hiệu bất thường trên cơ thể. Ngoài ra, tiền sử bệnh gia đình hoặc cá nhân, các phương pháp điều trị đã từng thực hiện cũng là những yếu tố cần xem xét trước khi chỉ định các xét nghiệm tầm soát ung thư.
Theo bác sĩ Nguyễn Văn Khai – bác sĩ chuyên khoa II, Khoa Ung bướu, Bệnh viện Thu Cúc, khám sức khỏe thông thường không thể thay thế việc tầm soát ung thư định kỳ. Những người có nguy cơ trung bình đối với ung thư thì từ 40 tuổi trở lên nên khám tầm soát ung thư sớm 6 tháng – 1 năm 1 lần. Những người có nguy cơ phát triển bệnh cao hơn (chẳng hạn như gia đình có tiền sử mắc ung thư, người hút thuốc lá, uống rượu nhiều, vv…) thì nên tầm soát ung thư sớm hơn. Tốt nhất vẫn nên tuân theo lời khuyên của bác sĩ.
Tầm soát ung thư: phát hiện sớm ung thư khi chưa có dấu hiệu
Ung thư thường không gây ra triệu chứng ở giai đoạn đầu, vì vậy chúng ta gần như không thể phát hiện sớm nếu chỉ dựa vào triệu chứng. Khám tầm soát ung thư là thực hiện các xét nghiệm đặc biệt nhằm phát hiện ra mầm mống ung thư, hoặc khi khối u còn rất nhỏ, khuyến khích thực hiện ở những người chưa có dấu hiệu, vì khi người bệnh có dấu hiệu, thường là khi ung thư đã lây lan sang các mô lân cận, và cơ hội điều trị không còn tốt như giai đoạn đầu.
Tỷ lệ tử vong do ung thư ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, vv… những năm gần đây đã giảm, nhất là ở các bệnh ung thư cổ tử cung, ung thư đại trực tràng, vv… do nhận thức về tầm soát ung thư của người dân đã tăng lên.
Các bệnh ung thư nhất định cần tầm soát
Hiện nay, có nhiều chương trình sàng lọc hiệu quả cho một số bệnh ung thư thường gặp nhất. Những người có nguy cơ trung bình đối với các bệnh ung thư được khuyến khích nên thường xuyên sàng lọc các bệnh sau đây:
Ung thư vú: Phụ nữ 40 tuổi trở lên nên chụp X-quang tuyến vú mỗi năm 1 lần. Phụ nữ có nguy cơ cao đối với bệnh ung thư vú có thể cần tầm soát sớm hơn.
Ung thư cổ tử cung: Phụ nữ trong độ tuổi từ 21 -29 nên làm xét nghiệm Pap định kỳ 1 năm 1 lần; Phụ nữ từ 30 – 65 nên kết hợp xét nghiệm Pap và HPV định kỳ. Phụ nữ trên 65 tuổi có các xét nghiệm trước bình thường thì có thể dừng.
Ung thư đại trực tràng: Nam, nữ trên 40 tuổi nên tầm soát ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, người có tiền sử gia đình mắc bệnh hoặc có các yếu tố nguy cơ khác nên tầm soát sớm hơn. Một số xét nghiệm được sử dụng để tầm soát ung thư đại trực tràng, bao gồm nội soi, soi đại tràng sigma, xét nghiệm máu trong phân, vv….
Ung thư phổi: chụp CT liều thấp có thể giúp phát hiện sớm ung thư phổi, đặc biệt cần thiết với những người hút thuốc lá trong nhiều năm.
Ung thư tuyến tiền liệt: Nam giới từ 40 tuổi trở lên nên tầm soát ung thư tuyến tiền liệt. Hiện nay có xét nghiệm PSA giúp phát hiện sớm bệnh.
Sữa chua từ lâu được biết đến là thực phẩm có lợi cho hệ tiêu hóa nhờ chứa các lợi khuẩn probiotic. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học gần đây còn cho thấy việc tiêu thụ sữa chua thường xuyên có thể liên quan đến việc giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng – một trong những loại ung thư phổ biến và gây tử vong hàng đầu trên thế giới.
Mùa hè với những đợt nắng nóng gay gắt luôn mang theo nhiều nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe, trong đó sốc nhiệt (say nắng) là tình trạng cấp cứu nguy hiểm nhất. Nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, người bệnh có thể phải đối mặt với những biến chứng nặng nề. Để giúp bạn chủ động bảo vệ bản thân và những người thân yêu, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin được chia sẻ những thông tin hữu ích và các bước xử trí đúng cách ngay sau đây.
68% lao động tự do làm việc ngoài trời có ít nhất một triệu chứng cơ - xương - khớp sau mỗi ngày làm việc, 33% biểu hiện lo âu từ nhẹ đến rất nặng, theo nghiên cứu công bố hôm 14/8.
Có tới 95,4% lao động tự do ngoài trời được khảo sát phải làm việc dưới nắng nóng, nhưng chỉ 19,1% có thể ngừng việc khi nhiệt độ gay gắt. Biến đổi khí hậu đang tạo sức ép kép lên sức khỏe và sinh kế của một lực lượng lao động lớn, trong khi cơ chế bảo vệ vẫn còn những khoảng trống.
Mùa hè đến mang theo tiếng gọi của biển xanh và những chuyến đi nghỉ dưỡng tuyệt vời. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm làn da phải đối mặt với thử thách từ ánh nắng mặt trời gay gắt, gió biển và nước muối mặn, dẫn đến tình trạng đen sạm, bỏng rát hay kích ứng da. Nhằm giúp bạn bảo vệ làn da trọn vẹn trong kỳ nghỉ, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về 5 sai lầm phổ biến nhất hủy hoại làn da khi đi biển và cách khắc phục ngay dưới đây.
Không ít người trên 50 tuổi than phiền rằng ăn ít hơn nhưng không giảm cân, thậm chí vòng bụng còn tăng. Nguyên nhân không đơn thuần nằm ở lượng thức ăn, mà còn liên quan đến những thay đổi tự nhiên của quá trình lão hóa và mức độ hoạt động thể lực.
Bữa ăn vội vã cùng thói quen vừa ăn vừa lướt điện thoại, máy tính sẽ gây áp lực lên hệ tiêu hóa, khiến việc giảm cân khó khăn. Khi ăn chậm nhai kỹ giúp cơ thể nhận biết tín hiệu no đúng lúc, từ đó kiểm soát lượng calo nạp vào và hỗ trợ giảm cân bền vững.
Ngày 8/8/2026, tại Nha Trang, Hội Dinh dưỡng Việt Nam phối hợp cùng Viện Pasteur Nha trang và Hội Quân dân Y đã tổ chức Hội thảo khoa học Dinh dưỡng lâm sàng và Tiết chế khu vực miền Trung và Tây Nguyên 2026 với chủ đề “Dinh dưỡng hợp lý với bệnh nhiễm trùng” với sự tham gia của hơn 150 nhà khoa học, các giáo sư, tiến sỹ, bác sỹ chuyên ngành dinh dưỡng, ngành truyền nhiễm, đại diện cơ sở đào tạo y học, các bệnh viện khu vực miền Trung và Tây Nguyê