Thuốc y học cổ truyền dùng ngoài trong da liễu chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Cùng với sự phát triển của y học cổ truyền, thuốc dùng ngoài trong da liễu cũng có những tiến bộ không ngừng, thể hiện bằng những nghiên cứu dược lý học và sự tích lũy không ngừng những bài thuốc mới. Thuốc y học cổ truyền dùng ngoài trong da liễu chủ yếu dựa vào đối chứng, tuy nhiên cũng có khi còn phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Nhìn chung, thuốc y học cổ truyền dùng ngoài trong da liễu có những đặc điểm sau:
Hiệu quả tốt: hiện nay thuốc y học cổ truyền dùng ngoài trong da liễu có đủ mọi dạng mà thuốc y học hiện đại cũng có, ngoài ra nó còn có thêm những dạng như: xông, hun, cao cứng.
Độc tính thấp: đây đều là những chế phẩm có nguồn gốc thiên nhiên và nói chung rất ít độc tính.
Dễ kết hợp: sự kết hợp này có thể là giữa các vị thuốc y học cổ truyền với nhau, cũng như giữa các vị thuốc y học cổ truyền với thuốc tây, chúng có thể hợp đồng với nhau để phát huy tác dụng, lấy trường bổ đoản. Đây là một hướng rất có triển vọng trong lĩnh vực này.
Phát triển nhanh: theo sự phát triển của khoa học công nghệ, các dạng thuốc ngày càng phong phú, chất lượng ngày càng cao.
Thuốc y học cổ truyền dùng ngoài trong bệnh da liễu sau khi bôi, dán, xông, ngâm…, các chất thuốc sẽ được khuyếch tán vào da rồi đi vào trong thông qua những con đường sau: trực tiếp thấm qua biểu bì, thấm qua chân lông, thấm qua tuyến mỡ, được huyết quản và mạng mạch hấp thụ.
Một số vị thuốc thường dùng ngoài
Chữa ngứa: địa phu tử, bạch tiễn bì, thương nhĩ tử, băng phiến, bạc hà, long não, sà sàng tử.
Thuốc nhuận phu: sinh địa, đương quy, hồ ma nhân, tử thảo, sáp ong, hạnh nhân, mỡ lợn, dầu vừng, đào nhân.
Thuốc giải độc: hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm, đại hoàng, chi tử, thanh đại, đại thanh diệp, tử hoa địa đinh, kim ngân hoa, liên kiều, mã xỉ hiện, bồ công anh, xa tiền thảo.
Thuốc thu liễm: thục thạch cao, hoạt thạch, lò cam thạch, khô phèn, ngũ bội, hải phiêu tiêu, chè xanh, thương truật, xích thạnh chi, luyện long cốt, luyện mẫu lệ.
Thuốc trừ hàn: can khương, ngô thù, bạch chỉ, nhục quế, ô đầu, nam tinh, xuyên tiêu, khương hoàng, trần bì, ngải diệp.
Thuốc sinh cơ: nhũ hương, một dược, huyết kiệt, hổ phách, đại giả thạch.
Thuốc hoạt huyết: hồng hoa, tam lăng, nga truật.
Thuốc hữu cơ: nha đảm tử, ô mai.
Thuốc sát trùng: khổ sâm, lưu hoàng, hùng hoàng, bách bộ, đại phong tử, khinh phấn, thủy ngân.
Thuốc chỉ huyết: tam thất, địa du, trắc bách diệp sao đen, bồ hoàng, huyết dư thán, bạch cập, tử thảo.
Thuốc tử mỡ: sinh trắc bách diệp.
Một số bài thuốc thường dùng
Thất lý tán:
Thành phần: huyết kiệt 30g, nhi trì 6g, chu sa 3,6g; hồng hoa, nhũ hương, một dược mỗi vị 3g, băng phiến 0,36g.
Các vị thuốc tán nhỏ, trộn đều. Tác dụng: hoạt huyết, hóa ứ. Chỉ định: các trường hợp ngoại thương có chảy máu. Cách dùng: trộn với rượu trắng cho thành hồ rồi đắp lên nơi tổn thương.
Cửu nhất đan:
Thành phần: thục thạch cao 900g, thăng đan 100g. Cách bào chế: nghiền nhỏ, trộn đều. Tác dụng: bài nùng, khứ hủ. Chỉ định: dùng trong các vết lở loét, các lỗ rò. Cách dùng: rắc lên trên tổn thương hoặc vê thành sợi rồi nhét vào các lỗ rò.
Nhị vị bá độc tán:
Thành phần: minh hùng hoàng, bạch phàn mỗi vị 100g.
Cách bào chế: nghiền nhỏ, trộn đều.
Tác dụng: bá độc tiêu thũng, thanh nhiệt chỉ thống.
Chỉ định: dùng trong các trường hợp mụn nhọt.
Cách dùng: hòa với nước chè đặc hoặc nước vắt của hành rồi đắp lên nơi tổn thương.
Cao hoàng liên:
Thành phần: hoàng liên 9g, đương quy 15g, hoàng bá 9g, sinh địa 30g, khương hoàng 9g, dầu vừng 360g, sáp ong 120g.
Những vị thuốc trên trừ sáp ong, cho vào dầu vừng rán nhỏ lửa cho đến khi vàng khô, chắt bỏ bã, thêm sáp ong vào, đun tan.
Tác dụng: thanh nhiệt giải độc, nhuận táo chỉ dưỡng.
Chỉ định: bỏng, mụn mủ trên da, nứt nẻ chân tay.
Cách dùng: bôi hoặc đắp lên nơi có bệnh ngìy 1 - 2 lần.
Cao chữa chàm:
Thành phần: thanh đại 60g, bột hoàng bá 60g, oxít kẽm luyện với thạch cao 620g, dầu vừng 620ml, vaselin 930g.
Những vị thuốc trên nghiền thành bột mịn, sau đó luyện với dầu vừng và vaselin, trộn đều.
Tác dụng: chàm, viêm da.
Cách dùng: bôi vào nơi có bệnh ngày 2 - 3 lần.
SKĐS - Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương vừa ký ban hành Thông tư số 52/2025/TT-BYT quy định danh mục bệnh truyền nhiễm, đối tượng và phạm vi phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc.
Uống trà không phải là giải pháp giảm cân nhanh chóng nhưng nếu biết chọn loại trà và sử dụng đúng cách có thể hỗ trợ giảm cân, giảm mỡ bụng theo thời gian.
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.