Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Anphantasia và chứng “không biết sợ”

Đối với mỗi người, thông thường có một hoặc ít nhất là một nỗi sợ với một thứ, một điều gì đó. Có thể là các hội chứng phobia như sợ không gian hẹp (Claustrophobia) hoặc sợ độ cao (Acrophobia) – 2 trong số các nỗi sợ phổ biến nhất. Tuy nhiên, một số những người gặp phải chứng Anphatasia – một rối loạn thần kinh và họ tiến triển một trạng thái dường như không biết sợ trước những thứ mà chúng ta vẫn thường sợ.

Anphantasia là gì?

Aphantasia là một bệnh rối loạn mà khi đó, người mắc phải chứng bệnh không thể hình dung nổi bất cứ hình ảnh gì trong đầu. Nói cách khác, tâm trí của họ hoàn toàn trống rỗng cho dù họ đã cố gắng hết sức nhưng dường như họ không thể hình dung nổi thứ gì.

Theo các nghiên cứu mới đây, những người mắc chứng rối loạn thần kinh này cho thấy khả năng khó hình dung và cảm nhận những câu chuyện, sự việc đáng sợ. Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Proceedings of the Royal Society B, đã thử nghiệm phản ứng của những người gặp phải chứng bệnh này với các trải nghiệm tạo cảm giác sợ hãi, chẳng hạn như bị cá mập đuổi theo, bị rơi từ vách đá hay rơi máy bay. Sau đó, các nhà khoa học đo lường phản ứng sợ hãi của đối tượng bằng cách theo dõi mức độ thay đổi xung thần kinh trên da – nói đơn giản là những người này có toát mồ hôi hay không. Đây là một bài kiểm tra thường dùng trong nghiên cứu tâm lý học để đo lường biểu hiện cảm xúc của cơ thể.
Thực nghiệm nghiên cứu

Để kiểm tra vai trò của hình ảnh trực quan đối với nỗi sợ hãi, nghiên cứu đã thực hiện trên 46 người tham gia (22 người mắc chứng Anphantasia và 24 người đối chứng không mắc bệnh) vào một căn phòng kín, được dán đen toàn bộ và gắn một số điện cực vào da. Da được coi là môi trường dẫn điện tốt khi ai đó cảm trải qua một cảm xúc mạnh, chẳng hạn như sợ hãi. Sau đó, các nhà khoa học tắt đèn và bắt đầu chiếu các câu chuyện – bối cảnh trên màn hình trước mặt.

Ban đầu, các câu chuyện mở đầu với nội dung vô thưởng vô phạt — ví dụ như bạn đang ở bãi biển, ở dưới nước hoặc đang ở trên máy bay, bên cửa sổ. Nhưng khi câu chuyện tiếp diễn đến cao trào, sự hồi hộp dần được xây dựng như một tia chớp chói lòa trong những cơn sóng xa, hoặc những người trên bãi biển chỉ trỏ, hoặc đèn cabin máy bay mờ đi khi máy bay bắt đầu rung lắc. Lúc này, mức độ dẫn điện của da nhanh chóng tăng lên đối với những người có thể hình dung được câu chuyện. Câu chuyện càng kịch tính về sau, sự phản ứng của da càng dữ dội hơn. Tuy nhiên, đối với những người mắc chứng Aphantasia, mức độ dẫn điện của da khá phẳng và gần như không có sự thay đổi.

Để kiểm tra xem sự khác biệt về ngưỡng sợ hãi và phản ứng đáp ứng, thử nghiệm được lặp lại bằng cách sử dụng một loạt hình ảnh đáng sợ rất trực quan, thay vì hình ảnh gợi ý tưởng tượng nội dung như trước, như ảnh xác chết hoặc con rắn mang răng nanh. Tuy nhiên ở lần này, những bức hình khiến cả hai nhóm người sởn da gà.

Theo các chuyên gia, 2 kết quả này cho thấy rằng chứng Anphantasia không liên quan đến việc giảm cảm xúc nói chung, mà chỉ ảnh hưởng riêng tới những người cần phải hình tượng hóa những câu chuyện đáng sợ trong đầu. Phản ứng sợ hãi về mặt cảm xúc xuất hiện khi những người tham gia thực sự nhìn thấy hình ảnh đáng sợ một các trực quan được bày ra trước mặt họ. Đồng thời, những phát hiện cũng cho thấy rằng hình ảnh là một bộ công cụ khuếch đại suy nghĩ về cảm xúc. Chúng ta có thể nghĩ mọi thứ, nhưng nếu không có hình ảnh, những suy nghĩ sẽ không có được sự bùng nổ về cảm xúc.

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy bối cảnh đáng sợ mà những người tham gia trải nghiệm đã bị mất sự đáng sợ khi mà bản thân họ không thể hình dung ra các bối cảnh đó một cách trực quan. Điều này cho thấy hình ảnh có thể có mối liên hệ chặt chẽ với cảm xúc hơn so với những gì các nhà khoa học hiện vẫn đang nghĩ. Trong tất cả các nghiên cứu từ trước đến nay, đây là sự khác biệt lớn nhất mà các nhà khoa học nhận thấy được giữa những người mắc chứng bệnh tính trên dân số nói chung.

Sự ảnh hưởng của Anphantasia

Anphantasia ảnh hưởng đến 2-5% dân số, nhưng vẫn còn rất ít thông tin về tình trạng này. Một nghiên cứu được công bố vào năm 2020 cho thấy rằng chứng mất ngủ có liên quan đến mô hình thay đổi rộng rãi đối với các quá trình nhận thức khác nhau như ghi nhớ, mơ và trí tưởng tượng. Nhưng trong khi hầu hết các nghiên cứu về chứng Anphantasia trước đây đều tập trung vào hành vi, thì nghiên cứu này sử dụng một thước đo khách quan về độ dẫn xung thần kinh điện của da. Bằng chứng từ nghiên cứu này hỗ trợ thêm cho những hiểu biết chứng Anphantasia – một hiện tượng độc đáo có thể kiểm chứng được.

Các chuyên gia cho rằng Aphantasia có nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau. Một số người không có khả năng liên tưởng các hình ảnh trực quan ở tất cả các giác quan, trong khi những người khác chỉ không có khả năng liên tưởng hình ảnh ở một hoặc một vài các giác quan khác. Một số người vẫn có thể mơ được những hình ảnh đó, trong khi có người thì lại không.

Tổng kết

Anphantasia cho thấy sự đa dạng vềvthần kinh. Đó là một ví dụ đáng kinh ngạc về việc bộ não và tâm trí của chúng ta có thể mang đến sự khác biệt như thế nào. Sự thú vị về bộ não vẫn cần được nghiên cứu nhiều hơn trong tương lai để có thể hiểu hết những điều kỳ diệu.

Tham khảo thêm thông tin tại: Phobia – hội chứng ám ảnh sợ hãi

 

Bình luận
Tin mới
  • 06/02/2026

    Những xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán thiếu máu

    Có một số loại xét nghiệm máu có thể được sử dụng để chẩn đoán thiếu máu. Trong đó công thức máu toàn phần là xét nghiệm phổ biến nhất, các loại xét nghiệm khác tuy ít phổ biến hơn nhưng cũng có thể hữu ích trong việc giúp xác định nguyên nhân gây thiếu máu. Cùng tìm hiểu về những loại xét nghiệm này qua bài viết sau!

  • 05/02/2026

    Rượu bia - Kẻ thù thầm lặng phá hoại sức khỏe sinh lý nam giới

    Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2019 có tới 2,6 triệu ca tử vong do tiêu thụ rượu, trong đó 2 triệu ca là nam giới.

  • 05/02/2026

    Đăng ký tham gia tập huấn trực tuyến: Phòng chống tai nạn thương tích trong dịp Tết Nguyên đán

    Dịp Tết Nguyên đán là thời điểm gia tăng các hoạt động giao thương, đi lại và sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tai nạn thương tích (TNTT) trong đời sống hàng ngày.

  • 05/02/2026

    Phòng ngừa các bệnh do rượu bia mùa lễ hội: Uống có trách nhiệm

    Mùa lễ hội là dịp để mọi người quây quần, gặp gỡ và chia sẻ niềm vui bên những bữa tiệc. Tuy nhiên, việc tiêu thụ rượu bia không kiểm soát trong những sự kiện này có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe và an toàn. Từ các bệnh lý mạn tính như xơ gan, bệnh tim mạch đến những tai nạn giao thông đáng tiếc, tác hại rượu bia không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây tổn thất cho xã hội. Để tận hưởng mùa lễ hội một cách an toàn, việc uống rượu an toàn và phòng say xỉn là điều cần thiết. Hãy là người uống có trách nhiệm !

  • 04/02/2026

    Thực phẩm bẩn có thể gây ra những bệnh ung thư nào?

    Việc sử dụng thực phẩm bẩn trong thời gian dài làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư trong đó có ung thư dạ dày, đại tràng và ung thư vòm họng.

  • 04/02/2026

    Những điều cha mẹ cần biết về rối loạn tiêu hóa ở trẻ

    Mùa xuân là thời điểm trẻ nhỏ thường đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe đường ruột do sự thay đổi đột ngột trong chế độ ăn uống và sinh hoạt. Sự kết hợp giữa các bữa tiệc tùng dịp lễ Tết và điều kiện môi trường nồm ẩm đặc trưng của mùa xuân tạo cơ hội cho các tác nhân gây hại tấn công hệ tiêu hóa non nớt của trẻ. Để giúp phụ huynh có cái nhìn đầy đủ và chủ động bảo vệ sức khỏe cho con trẻ trong giai đoạn này, hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu nguyên nhân cũng như các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

  • 03/02/2026

    Không khí ô nhiễm tàn phá làn da như thế nào?

    Ô nhiễm không khí không chỉ ảnh hưởng đến phổi mà còn gây tổn hại sâu sắc cho làn da. Bụi mịn và khí độc có thể khiến da lão hóa sớm, viêm nhiễm và mất hàng rào bảo vệ tự nhiên.

  • 03/02/2026

    Vụ "hô biến" thịt hết hạn vào trường học: Quy trình an toàn đứt gãy ở đâu?

    TS.BS Trương Hồng Sơn nhận định, quy trình an toàn thực phẩm bị đứt gãy thường là kết quả của thiếu minh bạch, thiếu kiểm tra độc lập và thiếu hệ thống quản lý.

Xem thêm