Sai lầm 1: Bạn đi tiểu khi đang tắm
Thành thật mà nói, nhiều người trong chúng ta đều đã mắc sai lầm này ít nhất 1 lần trong đời. Có 2 lý do để loại bỏ thói quen này, đầu tiên, việc đi tiểu thường xuyên khi tắm có thể dẫn đến mối liên hệ giữa tiếng nước chảy và cảm giác muốn đi tiểu, khiến bạn phải đi tiểu trong phòng tắm mỗi khi vào phòng.
Thứ 2, nữ giới đơn giản là không có thói quen đi tiểu đứng. Tư thế này không cho phép sàn chậu của bạn thư giãn, điều đó có nghĩa là bạn có thể sẽ không thải hết nước tiểu trong bàng quang và cuối cùng bạn có thể phải đẩy nước tiểu ra ngoài. Điều này dẫn chúng ta đến sai lầm tiếp theo.
Sai lầm 2: Rặn khi đi tiểu
Nín thở khi đi tiểu hoặc rặn bằng cơ bụng để tăng tốc quá trình sẽ không gây hại nếu bạn làm điều đó một lần, nhưng nếu đây là thói quen hàng ngày, nó có thể làm suy yếu bàng quang, ảnh hưởng đến cơ quan vùng chậu. Điều này có thể dẫn đến sa cơ quan vùng chậu, khó thải hết nước tiểu trong bàng quang, thậm chí là trĩ. Bạn nên thư giãn nhiều nhất có thể và để dòng nước tiểu chảy ra theo tốc độ tự nhiên.
Đọc thêm bài viết: Chế độ ăn cho bệnh thận mạn tính
Sai lầm 3: Lau từ sau ra trước
Việc lau ngược ra phía trước có thể đưa phân và chất lỏng tiến gần niệu đạo hoặc lỗ tiểu, có thể dẫn đến nhiễm trùng đường tiết niệu. Vì vậy, hãy cố gắng lau từ trước ra sau.
Sai lầm 4: Không ngồi đúng tư thế
Khi đi vệ sinh, tốt nhất bạn nên ở tư thế ngồi thoải mái. Nếu bạn ngồi xổm hay lơ lửng trên bồn cầu thì có nghĩa là bạn đang siết chặt sàn chậu. Và điều này hạn chế mức độ co bóp của bàng quang để thải nước tiểu.
Sai lầm 5: đi vệ sinh một cách vội vàng
Ngay cả khi bạn không có nhiều thời gian thì việc vội vàng đi vệ sinh cũng không phải là điều tốt. Việc đi tiểu vội vàng có nghĩa là bạn có thể chưa thải hết nước tiểu trong bàng quang. Hãy dành một khoảng thời gian đủ để làm trống hoàn toàn bàng quang, bằng cách này, bàng quang có thể thải hết hoàn toàn nước tiểu và đầy lại từ đầu.

Sai lầm 6: Bạn nhịn tiểu lâu nhất có thể
Việc nhịn tiểu ảnh hưởng đến bàng quang, làm đảo lộn hoạt động bình thường của nó. Nếu bạn muốn đi tiểu nhưng lại nhịn tiểu trong thời gian dài (5 giờ trở lên), bạn có thể giảm khả năng nhận biết bàng quang đầy, cũng như làm giảm khả năng nhạy của các cơ quan cảm nhận sự căng ở bàng quang. Sự rối loạn của bàng quang có thể dẫn đến rò rỉ nước tiểu hoặc nhiễm trùng bàng quang, cùng nhiều vấn đề khác. Nên đi tiểu 2 - 4 giờ một lần để tránh vấn đề này.
Đọc thêm bài viết: Dinh dưỡng và bệnh thận mạn tính
Sai lầm 7: Đi tiểu khi không thực sự cần thiết
Việc cố gắng thải hết nước tiểu thường xuyên để đề phòng trường hợp phải đi tiểu vào thời điểm không thuận tiện nghe có vẻ hợp lí nhưng điều đó không tốt cho sức khoẻ bàng quang. Nếu bạn đi vệ sinh mà không đợi có cảm giác thôi thúc thích hợp thì bạn sẽ khiến bàng quang nhạy hơn với việc đầy nước và buồn tiểu thường xuyên hơn. Nếu đây là thói quen của bạn thì bạn nên rèn luyện lại bàng quang với sự trợ giúp của chuyên gia vật lý trị liệu.
Sai lầm 8: Bạn thõng vai khi ngồi
Thõng vai, rũ người về phía trước khi ngồi đi tiểu có thể gây áp lực không cần thiết lên bàng quang và thậm chí có thể khiến bạn khó đi tiểu. Nếu bạn không cho phép sự co bóp bàng quang xảy ra tự nhiên, bạn có thể không làm rỗng bàng quang hoàn toàn hoặc khi bạn đứng thẳng lên, nước tiểu sẽ chảy ra nhiều hơn. Tốt nhất bạn nên ngồi thẳng hoặc hơi nghiêng về phía trước với hai tay thả lỏng trên chân.
Sai lầm 9: Bạn tập Kegels khi đi tiểu
Tập Kegels, một bài tập mà bạn luân phiên siết chặt và thư giãn các cơ sàn chậu, mang nhiều lợi ích nhưng có thể gây ra vấn đề nếu bạn tập khi đang đi tiểu. Tập Kegels khi đang đi tiểu sẽ khiến bàng quang ngừng co bóp và khi bạn thả ra, bạn đã làm gián đoạn dòng chảy. Việc tập Kegels thường xuyên khi đi tiểu thực sự có thể khiến bàng quang của bạn trống rỗng một phần, dẫn đến việc bắt đầu/dừng dòng nước tiểu ngoài tầm kiểm soát của bạn.
Chế độ ăn uống không phải là một liều thuốc chữa bệnh nhanh chóng, nhưng nó có khả năng cao giúp nâng cao sức khỏe của bạn. Liên hệ ngay Trung tâm Điều trị Béo phì và Hội chứng chuyển hóa VIAM - Phòng khám chuyên khoa Dinh dưỡng VIAM trực thuộc Viện Y học ứng dụng Việt Nam để khám, tư vấn chế độ dinh dưỡng cùng chuyên gia đầu ngành TẠI ĐÂY hoặc Hotline 0935 18 3939/ 024 3633 5678
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!