Một nửa số dân của Mỹ được dự đoán sẽ bị béo phì vào năm 2030. Do vậy, việc nâng cao nhận thức về vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc kê đơn dành cho người thừa cân béo phì đang được quan tâm hơn bao giờ hết.
Để các thuốc phát huy được hết hiệu quả, cần đạt đủ liều ở nhiều vị trí trên cơ thể. Ở những người thừa cân béo phì, thuốc có thể sẽ không đạt được liều cao nhất do có nhiều mô cơ thể để hoà tan thuốc hơn. Ngoài ra, thừa cân béo phì cũng ảnh hưởng đến thời gian thuốc phân huỷ và thải ra ngoài cơ thể. Phối hợp 2 giai đoạn này có thể dẫn đến tình trạng có nơi không đủ thuốc hoặc có nơi quá nhiều thuốc trong cơ thể khi sử dụng với liều thông thường.
Các loại thuốc sẽ giảm hiệu quả ở người béo phì
Chỉ số BMI trên 25 sẽ được coi là thừa cân và trên 30 sẽ được coi là béo phì. Các thuốc như insulin, thuốc thay thế testosterone và thuốc điều trị một số bệnh gan sẽ không có hiệu quả cao ở người béo phì. Ngoài ra, còn có một số loại thuốc sẽ giảm hiệu quả ở người béo phì, bao gồm:
Kháng sinh
Nghiên cứu đăng trên tạp chí Pharmacotherapy chỉ ra rằng liều thông thường của một số kháng sinh sẽ không đủ với người béo phì và có thể không hiệu quả, đặc biệt là ở người nhiễm trùng nặng. Các dữ liệu đang được tiếp tục thu thập để xem xem liều như thế nào sẽ phù hợp với tất cả bệnh nhân, đặc biệt là với sự thay đổi của các vi khuẩn kháng kháng sinh trên toàn cầu. Các bác sĩ cần ý thức được điều này và thay đổi liều thuốc kê để dự phòng nhiễm khuẩn ở người béo phì tiến hành phẫu thuật.
Thuốc điều trị sinh sản
Nghiên cứu năm 2014 trên tạp chí The Journal of Clinical Endocrinology and Metabolismn chỉ ra rằng các thuốc đối vận GnRH dùng để thu thập trứng trong quá trình thụ tinh nhân tạo sẽ được đào thải ra ngoài nhanh hơn ở phụ nữ béo phì. Khi tình trạng này xảy ra, nhiều khả năng não bộ sẽ phát tín hiệu tới buồng trứng giải phóng ra trứng trước khi có thể thu thập được. Đây có thể là lý do lý giải vì sao phụ nữ thừa cân béo phì có tỷ lệ thụ tinh nhân tạo thất bại cao hơn so với phụ nữ có cân nặng bình thường. USDA cũng báo cáo rằng thừa cân béo phì có liên quan đến hội chứng buồng trứng đa nang. Những phụ nữ mắc hội chứng này thường sẽ không rụng trứng đều đặn. Một loại thuốc được sử dụng để kích thích rụng trứng là Clomid hoặc Serophone đôi khi cũng sẽ không đạt được hiệu quả cao ở phụ nữ bị buồng trứng đa nang. Giảm cân có thể sẽ giúp bạn nâng cao khả năng mang thai trong khi sử dụng những loại thuốc này.

Thuốc tránh thai hàng ngày là một biện pháp tránh thai hiệu quả nhưng có thể sẽ không thực tế ở phụ nữ bị thừa cân béo phì. Thừa cân béo phì sẽ ảnh hưởng đến cách xử lý thuốc trong cơ thể. Nghiên cứu năm 2014 trên Expert Review of Clinical Pharmacology chỉ ra rằng ở phụ nữ thừa cân béo phì, thuốc tránh thai hàng ngày sẽ mất gấp đôi thời gian để đạt đỉnh trong cơ thể, do vậy, họ sẽ có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn cao hơn.
Thuốc tránh thai khẩn cấp
Nghiên cứu trên tạp chí Contraception chỉ ra rằng thuốc tránh thai khẩn gấp có thể không phát huy được tác dụng khi sử dụng ở phụ nữ bị thừa cân béo phì. Nguy cơ mang thai ngoài ý muốn sẽ cao hơn gấp khoảng 3 lần so với phụ nữ có cân nặng bình thường, nguy cơ này thậm chí còn cao hơn nữa nếu sử dụng thuốc có công thức levonogestrel. Một cách tránh thai khác thực tế hơn với phụ nữ ở bất cứ cân nặng nào đó là sử dụng vòng tránh thai. Sau khi đặt vòng 5 ngày, vòng sẽ có tác dụng tránh thai lên tới 99%.
Các loại thuốc có thể gây tăng cân
Xét ở một khía cạnh khác, một số loại thuốc lại có thể gây ra tác dụng phụ là tăng cân. Mặc dù không có bằng chứng cho thấy những thuốc này kém hiệu quả hơn ở người thừa cân béo phì, nhưng các thuốc chống trầm cảm và một số loại thuốc tâm thần có thể gây tăng cân.
Trước đây, các nghiên cứu về thuốc thường sẽ không tập trung vào đối tượng người thừa cân béo phì, nhưng hiện nay, xu hướng này đang thay đổi vì ngày càng có nhiều người bị thừa cân béo phì trong cộng đồng hơn. Do vậy, bác sĩ và nhân viên y tế cần có cái nhìn đúng đắn hơn trong việc kê đơn cho đối tượng này trong tương lai.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Các nguyên nhân gây thừa cân và béo phì
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.
Bệnh Crohn không chỉ gây ra những triệu chứng khó chịu về thể chất như đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi mà còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người bệnh. Xây dựng một thói quen chăm sóc bản thân phù hợp chính là cách để sống chung với bệnh nhẹ nhàng hơn.
HbA1c là chỉ số phản ánh mức đường huyết trung bình trong khoảng 3 tháng gần nhất, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và theo dõi bệnh đái tháo đường.