Nguyên nhân gây biếng ăn
Tỷ lệ biếng ăn ở Việt nam có xu hướng tăng theo sự phát triển kinh tế: Theo nghiên cứu đánh giá tình hình bệnh nhi đến khám hàng năm tại khoa khám tư vấn dinh dưỡng trẻ em ,Viện Dinh dưỡng Quốc gia, tỷ lệ chẩn đoán biếng ăn ở trẻ đến khám tại Viện chiếm đến 37%, trong khi đó tỷ lệ ở Mỹ là 25-45%.
Tiêu chuẩn chẩn đoán biếng ăn khi có 1 trong các dấu hiệu sau và đã tiến triển trong 1 tháng qua: Trẻ không chịu ăn đủ số lượng thức ăn cần thiết do sự mất ngon miệng; Cũng do không thích ăn dẫn đến thời gian ăn thường xuyên kéo quá dài (trên 30' thậm chí hàng tiếng/bữa) để trẻ có thể ăn được lượng thực phẩm yêu cầu theo lứa tuổi. Biếng ăn bao gồm cả khái niệm kén ăn: trẻ không ăn được đa dạng các loại thức phẩm mà chỉ ăn được rất ít loại.

Thực đơn cho trẻ biếng ăn cần đảm bảo dinh dưỡng và cuốn hút về hình thức.
Biếng ăn không hẳn là một bệnh mà thường là biểu hiện của nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do bệnh lý hay rối loạn tâm lý. Biếng ăn lâu dài có thể nghiêm trọng: biếng ăn-->ăn ít --> thiếu nhiều chất dinh dưỡng cần thiết như đạm, dầu mỡ, vitamin, vi lượng... --> hậu quả suy dinh dưỡng hoặc thiếu hụt các vi chất như khô mắt, thiếu máu…--> càng làm cho trẻ biếng ăn hơn, suy dinh dưỡng nặng hơn.Trẻ suy dinh dưỡng --> dễ mắc các bệnh nhiễm trùng --> càng biếng ăn nặng hơn.
Trẻ biếng ăn không chỉ gây suy dinh dưỡng mà thường ảnh hưởng tâm lý trẻ do bị căng thẳng trong giờ ăn, và tâm lý gia đình do lo lắng, nếu mẹ đang nuôi con bú sẽ ảnh hưởng xấu đến lượng và chất lượng sữa.
Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ biếng ăn
Đối với trẻ nhỏ còn bú mẹ, cho trẻ bú nhiều lần hơn nếu thời gian mỗi lần bú ít hơn bình thường. Nếu trẻ không ngậm bú được, người mẹ cần vắt sữa vào cốc rồi dùng thìa cho trẻ uống.
Trẻ lớn hơn đã ăn bổ sung: Nên cho ăn các loại thức ăn mềm, đa dạng, dễ tiêu hoá và chia thành bữa nhỏ. Cần thay đổi thức ăn và cho trẻ ăn những loại thức ăn trẻ tỏ ra thích hơn để khuyến khích trẻ ăn được nhiều, kích thích sự thèm ăn. Cần tạo tâm lý thoải mái, vui thích nhất là tâm lý ganh đua khi ăn sẽ kích thích các tuyến tiêu hoá hoạt động, tăng bài tiết men tiêu hoá giúp trẻ ăn ngon miệng hơn.
Bữa ăn có đủ 4 nhóm thực phẩm (theo cách phân loại cũ), hoặc tối thiểu 5/8 nhóm (theo cách phân loại mới), chú trọng đủ lượng đạm động vật, dầu mỡ trong khẩu phần theo lứa tuổi. Tập cho trẻ ăn những thức ăn mới lạ, luôn thay đổi món ăn hàng ngày. Chế biến món ăn ngon, phù hợp khẩu vị và lứa tuổi của trẻ. Thức ăn nấu loãng rồi đặc dần lên. Uống thêm nước hoa quả tươi để tăng cường vitamin sẽ giúp tăng khẩu vị ngon miệng. Chú ý, không cho trẻ uống nước ngọt, ăn quà vặt trước bữa ăn.
Chăm sóc tâm lý cho trẻ biếng ăn
Tạo cho trẻ tâm lý thoải mái khi ăn. Động viên khuyến khích trẻ ăn bằng cách ăn cùng với bạn cùng lứa hoặc ăn cùng mâm với gia đình. Trò chuyện tạo không khí vui vẻ trong bữa ăn, nhưng hướng trẻ tập trung vào bữa ăn. Cho trẻ những thức ăn theo sở thích, khuyến khích trẻ hứng thú với sự đa dạng thực phẩm trong khẩu phần ăn hàng ngày, không nên đặt quá nặng giá trị dinh dưỡng của từng loại thực phẩm.
Chấp nhận rằng trẻ có thói quen ăn uống khác nhau từ người trưởng thành - có thể ăn nhiều bữa hơn trong ngày hoặc trải qua các giai đoạn thích hoặc không thích các loại thực phẩm cụ thể. Khuyến khích con bày tỏ cảm xúc của mình một cách tự do và khuyến khích giao tiếp cởi mở trong nhà, cho trẻ ăn khi đói và dừng lại khi trẻ đã thấy no.
Khuyến khích trẻ chơi đùa, vận động thể lực, thể dục thể thao đều đặn để nuôi dưỡng sự tự tin của cơ thể, việc này còn giúp trẻ chóng đói và vui vẻ sẽ ăn ngon miệng hơn. Giúp trẻ phát triển đúng đắn những nhận thức quan trọng về hình ảnh và thông điệp mà trẻ nhận được từ truyền hình, tạp chí, internet và truyền thông xã hội để trẻ không bị những nhận thức lệch lạc như sợ béo, xu hướng thích ăn kiêng ở tuổi còn nhỏ.
Lưu ý không quá nuông chiều hoặc ép buộc, nhồi nhét trẻ ăn, không dùng việc ăn của trẻ làm thành tích thưởng phạt, không để trẻ xao lãng bữa ăn bằng các hình thức giải trí như xem ti vi, chơi game, chạy nhảy trong bữa ăn; Không cho trẻ bỏ bữa, tham gia chế độ ăn theo trào lưu hoặc thực hiện các chế độ ăn uống không phù hợp với trẻ em.
(Theo Khuyến nghị dinh dưỡng trong 1000 ngày vàng, Viện Dinh dưỡng).
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Điều kiện về dinh dưỡng ở nhóm dân tộc rất ít người còn nhiều khó khăn.
Có một số người không thích ăn rau và trái cây. Mặc dù sức khỏe có thể vẫn bình thường nhưng về lâu dài thói quen ăn uống này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính.
Flavonoids là một nhóm hợp chất thực vật (phytonutrients) được tìm thấy rộng rãi trong trái cây, rau củ, trà và rượu vang đỏ. Chúng đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì sức khỏe.
Các kệ siêu thị ngày nay tràn ngập đủ loại gia vị giúp món ăn của bạn thêm bắt mắt và đậm đà. Mỗi loại gia vị có thời gian và cách bảo quản khác nhau. Bạn nên nắm được những quy tắc đó nếu không muốn những lọ gia vị của mình bị lãng phí phải bỏ đi. Hướng dẫn dưới đây sẽ giúp bạn biết nên bảo quản những loại gia vị quen thuộc (và cả những loại bạn muốn thử) ở đâu, cũng như thời gian sử dụng an toàn của chúng.
Trong hành trình chinh phục vẻ đẹp toàn diện, chúng ta thường mải mê tìm kiếm những dòng mỹ phẩm đắt tiền hay những bài tập cường độ cao để có da đẹp, dáng xinh mà quên mất rằng gốc rễ của một làn da rạng rỡ và một vóc dáng thanh mảnh nằm chính ở sự cân bằng năng lượng từ bên trong.
Sau 8 năm hoạt động, VIAM Clinic – đơn vị trực thuộc Viện Y học Ứng dụng Việt Nam – đã triển khai các hoạt động thăm khám và tư vấn dinh dưỡng cho trẻ em theo hướng chuyên sâu và cá thể hóa.
Tiểu nhiều lần vào ban đêm là tình trạng khá phổ biến. Người mắc chứng tiểu đêm thường xuyên phải thức giấc giữa đêm để đi tiểu, khiến giấc ngủ bị gián đoạn. Về lâu dài, điều này có thể gây uể oải, mệt mỏi, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
Y học thời kỳ xa xưa đã biết dựa vào các loại cây và thảo mộc đặc biệt để chữa bệnh, và chúng vẫn luôn được coi trọng trong xã hội hiện đại. Đối với y học hiện đại, y học cổ truyền đóng một vai trò quan trọng, với các hợp chất và dưỡng chất có lợi cho sức khỏe mang tính an toàn tương đối cao khi sử dụng hợp lý.
Magie là khoáng chất thiết yếu, tham gia vào hơn 300 phản ứng enzyme trong cơ thể, hỗ trợ chức năng cơ bắp, thần kinh, tim mạch và chuyển hóa năng lượng. Thời gian magie tồn tại trong cơ thể phụ thuộc vào một vài yếu tố, nhưng hầu hết các loại magie sẽ được đào thải trong vòng một hoặc hai ngày.