Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Vitamin D: những lợi ích mới được khám phá

Vitamin D là một chủ đề rất nóng hiện nay do có một loạt các nghiên cứu tuyên bố những lợi ích tuyệt hảo đối với các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Vitamin D là một dưỡng chất được tổng hợp ở da khi da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và cũng có trong một số thực phẩm.

Ánh nắng mặt trời là nguồn cung cấp vitamin D tốt nhất. Nhưng trong những tháng mùa đông, Viện Y tế quốc gia Hoa Kì (NIH) khuyến cáo cần bổ sung vitamin D bằng cách ăn các thực phẩm chứa vitamin D mỗi ngày. Các thực phẩm chứa nhiều vitamin D nhất bao gồm: cá trơn, sữa bổ sung vi chất, gan bò, lòng đỏ trứng, nấm, và ngũ cốc ăn sáng bổ sung vi chất.

Công dụng của Vitamin D

Các nhà khoa học biết rằng vitamin D là một dưỡng chất thiết yếu cho một sức khỏe tốt và sự thiếu hụt vitamin D có liên quan đến những vấn đề cả về thể chất lẫn tinh thần. Đáng chú ý nhất là vitamin D giúp điều hòa mức canxi trong cơ thể, giúp xương rắn chắc và ngăn ngừa loãng xương.

Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy vitamin D có thể có lợi ích bảo vệ chống lại suy tim, tiểu đường, ung thư, nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh tự miễn và thậm chí là cả rụng tóc.

Đáng ngạc nhiên là lại có một số lượng lớn người bị thiếu hụt vitamin D. Ví dụ, theo một nghiên cứu, hơn 40% người trưởng thành ở Mỹ đang bị thiếu hụt vitamin D. Do sự thiếu hụt vitamin D quá phổ biến nên đây thực sự là một vấn đề lớn với sức khỏe cộng đồng.

Các triệu chứng của việc thiếu hụt vitamin D có thể khác nhau ở mỗi người. các triệu chứng phổ biến bao gồm: đau nhức các khớp, đau cơ hoặc xương, mệt mỏi rã rời, các vấn đề về việc ường thở, tâm trạng kém hoặc rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD)

Dưới đây là một số nghiên cứu mới nhất để điều tra mối quan hệ giữa vitamin D và một số loại bệnh:

Vitamin D và suy tim

Có những nghiên cứu khác nhau đưa ra gợi ý rằng vitamin D có thể mang lại những lợi ích bảo vệ chống lại bệnh tim mạch, nhưng các nhà khoa học vẫn chưa xác định được cơ chế nào thúc đẩy mối liên kết này.

Gần đây, một nghiên cứu đã đánh giá những ảnh hưởng của một loại vitamin D, gọi là 1,25-dihydroxyvitamin D3, lên các tế bào tim qua của chuột thí nghiệm. Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào các tế bào chịu trách nhiệm hình thành mô sẹo sau một cơn đau tim, được gọi là các đơn vị tạo cụm nguyên bào sợi cơ tim (cCFU-Fs). cCFU-Fs là một nhóm tế bquan trọng bởi vì khi mô tim đã bị sẹo hóa, tim sẽ phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể dẫn đến suy tim.

Nhóm nghiên cứu thấy rằng vitamin D đã ức chế sự hoạt động của nhóm tế bào này, giúp ngăn chặn các mô sẹo hình thành xung quanh tim của các con chuột trong nghiên cứu, và có khả năng ngăn chặn sự tắc nghẽn trong hệ tuần hoàn.

Các nhà khoa học hy vọng rằng với nghiên cứu sâu hơn nữa, vitamin D sẽ được chứng minh là một liệu pháp điều trị bổ sung hiệu quả với chi phí thấp cho các phương pháp điều trị hiện tại, và có thể đưa những phát hiện này tiến tới thử nghiệm lâm sàng trên con người.

Vitamin D và ung thư

Ung thư vú và ung thư ruột đều được thấy là có liên quan đến các trường hợp thiếu hụt vitamin D trong các nghiên cứu gần đây. Một trong các dữ liệu được phân tích từ hai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên và một nghiên cứu thuần tập tiến cứu.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng mức vitamin D cao tỉ lệ nghịch với nguy cơ mắc ung thư vú ở những người phụ nữ ban đầu không bị ung thư.

Theo các kết quả nghiên cứu, mức vitamin D càng cao thì nguy cơ mắc ung thư vú càng thấp. Mối tương quan này vẫn còn có ý nghĩa thậm chí sau khi các kết quả được điều chỉnh với các yếu tố gây nhiễu như tuổi tác, BMI, sự bổ sung thêm canxi và thói quen hút thuốc.

Mặc dù một mối liên quan giữa sự thiếu hụt vitamin D và ung thư đại trực tràng đã được công bố trước đây nhưng không phải tất cả các nghiên cứu đều có thể mô phỏng lại những phát hiện này. Một nghiên cứu mới với quy mô lớn, đã cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cách thống kê dữ liệu từ 3 châu lục, bao gồm 5,700 ca ung thư đại trực tràng và 7,100 bệnh nhân.

Các nhà nghiên cứu đã tính toán rằng những người có mức vitamin D giảm xuống dưới mức quy định theo hướng dẫn hiện hành có nguy cơ phát triển ung thư ruột cao hơn tới 31%. Ngược lại những người có mức vitamin D cao hơn khuyến cáo hiện hành thì nguy cơ phát triển loại ung thư này giảm xuống 22%.

Vitamin D và béo bụng

Một nghiên cứu khác gần đây đã xem xét những mối liên quan giữa béo phì và mức vitamin D thấp đã được thấy trước đây, đặc biệt tập trung vào cách các loại chất béo cơ thể khác nhau có thể tương tác với vitamin D.

Mối tương quan mạnh mẽ giữa sự gia tăng lượng mỡ tập trung ở bụng và mức vitamin D thấp cho thấy rằng những cá nhân với số đo vòng eo lớn có nguy cơ thiếu hụt vitamin D cao hơn và họ nên xem xét việc kiểm tra mức vitamin D của bản thân.

Tuy nhiên, nghiên cứu này không thể chứng minh liệu sự thiếu hụt vitamin D có gây tích mỡ ở bụng hay không hoặc nếu mỡ bụng bằng cách nào đó góp phần vào sự thiếu hụt vitamin. Các nhà nghiên cứu nói rằng các nghiên cứu trong tương lai sẽ cố gắng xác định nguyên nhân và tác động trong mối quan hệ này.

Vitamin D và bệnh Alzheimer

Một tổng quan hệ thống từ các nhà khoa học Úc gần đây đã cố gắng giải quyết những tranh cãi xung quanh khả năng bảo vệ chống lại Alzheimer của vitamin D. Đánh giá này đã phân tích trên 70 nghiên cứu tìm hiểu về sự liên quan này.

Họ đã kết luận rằng không có mối liên quan đặc biệt nào giữa sự thiếu hụt vitamin D và nguy cơ mắc Alzheimer.

Điều thú vị là, các tác giả đã gợi ý rằng – dựa trên tổng quan hệ thống của họ - có thể có một mối liên quan giữa sự tiếp xúc với các tia tử ngoại của mặt trời và sự bảo vệ chống lại bệnh đa xơ cứng, bệnh Parkinson và Alzheimer. Nhưng điều này có thể không phụ thuộc vào việc sản xuất vitamin D.

Các tác giả nói rằng những sẽ cần nghiên cứu chuyên sâu hơn để chứng thực lại những mối liên quan này và xác định các cơ chế chịu trách nhiệm cho các mối liên quan như vậy.

Vitamin D và đau mạn tính

Qua nhiều năm, một số nhà khoa học đã đưa ra giả thiết rằng lượng vitamin thấp có thể tạo ra hoặc làm tồi tệ hơn những cơn đau mạn tính.

Vì vậy, năm 2015, một nhóm các nhà khoa học đã bắt đầu đối chiếu các bằng chứng hiện có để xác định mối quan hệ này.

Kết quả cập nhật được giải thích như sau:

Các bằng chứng gợi ý rằng vitamin D có thể có một vai trò trong nguyên nhân gây ra các cơn đau mãn tính. Nhóm đã nghiên cứu kỹ những phát hiện từ nhiều nghiên cứu khác nhau.

Sau quá trình phân tích, họ kết luận rằng các bằng chứng khoa học có sẵn không đủ thuyết phục để kết luận một mối liên quan giữa sự thiếu hụt vitamin D và cơn đau mạn tính.

Các tác giả viết: “Dựa trên bằng chứng này, khó có khả năng là vitamin D có một ảnh hưởng tích cực lên các tình trạng đau mạn tính. Liệu vitamin D có thể có những tác động tích cực trong các tình trạng cơn đau mạn tính riêng biệt hay không thì cần nghiên cứu chuyên sâu hơn.”

Tuy nhiên, hãy nhớ rằng, việc tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng mặt trời, đặc biệt là mặt trời nóng vào buổi trưa, có thể dẫn đến tổn thương da và tăng nguy cơ ung thư da.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những sự thật về Vitamin D

CTV Nguyễn Thảo - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Theo Medical News Today
Bình luận
Tin mới
  • 14/04/2026

    Tránh sai lầm phổ biến khi bố mẹ hướng dẫn con ôn thi học kỳ tiểu học

    Kỳ thi học kỳ ở bậc tiểu học là cơ hội để trẻ rèn luyện kỹ năng tự học và quản lý thời gian, nhưng cũng mang lại áp lực không nhỏ từ lịch học và kỳ vọng gia đình. Nếu thiếu sự hỗ trợ đúng cách, học sinh dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự tự tin và niềm yêu thích học tập. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp phụ huynh nhận diện những sai lầm phổ biến để xây dựng phương pháp đồng hành hiệu quả

  • 14/04/2026

    6 thói quen hằng ngày giúp 'đốt mỡ' thừa hiệu quả

    Duy trì các thói quen lành mạnh mỗi ngày như ăn đủ protein, ngủ đủ giấc, vận động đều đặn và kiểm soát căng thẳng giúp điều hòa chuyển hóa, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và hỗ trợ giảm mỡ bền vững.

  • 14/04/2026

    Khó ngủ, mất ngủ nên ăn uống thế nào?

    Khó ngủ, mất ngủ hoặc ngủ không sâu giấc thường liên quan đến thói quen sinh hoạt và chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Việc lựa chọn thực phẩm phù hợp có thể giúp cơ thể điều chỉnh nhịp sinh học, cải thiện chất lượng nghỉ ngơi.

  • 13/04/2026

    Lý do nên bỏ muối vào nước luộc trứng

    Nhiều người nghĩ là cho chút muối khi luộc trứng giúp dễ bóc vỏ hơn. Thực tế, nhúm muối nhỏ là một mẹo khoa học giúp luộc trứng hoàn hảo hơn cả.

  • 13/04/2026

    Bố mẹ nên làm gì để giúp con ôn thi học kỳ tiểu học hiệu quả

    Mỗi khi mùa thi học kỳ đến gần, không khí trong nhiều gia đình lại trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Với các bạn nhỏ tiểu học, lứa tuổi còn ham vui, dễ xao nhãng và chưa có kỹ năng tập trung kéo dài, kỳ thi không chỉ là thử thách với con mà còn là một cuộc chiến tâm lý đối với cả bố mẹ. Hiểu được những nỗi lo đó, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin để việc ôn thi học kỳ trở nên nhẹ nhàng hơn. Thay vì áp lực điểm số, sự đồng hành đúng cách của phụ huynh sẽ giúp trẻ vừa nắm vững kiến thức, vừa hình thành được thói quen tự học bền vững.

  • 12/04/2026

    Uống lá chè tươi hay trà khô tốt hơn cho gan?

    Trà xanh chứa các hoạt chất giúp bảo vệ gan hiệu quả. Tuy nhiên, nên lựa chọn lá chè tươi hái vườn hay trà khô để đạt lợi ích cao nhất mà không gây hại cho sức khỏe?

  • 12/04/2026

    Bệnh đái tháo đường type 5

    Bệnh đái tháo đường type 5 (Tiểu đường type 5), trước đây gọi là tiểu đường liên quan đến suy dinh dưỡng (MRDM), là một thể bệnh riêng biệt gắn với suy dinh dưỡng mạn tính và thiếu sự chăm sóc y tế. Sau nhiều năm tranh luận, tháng 1/2025, một nhóm chuyên gia quốc tế đã thống nhất phân loại lại tiểu đường liên quan đến suy dinh dưỡng- MRDM thành tiểu đường type 5. Quyết định này được Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) phê chuẩn tại Đại hội Đái tháo đường Thế giới 2025 ở Bangkok.

  • 11/04/2026

    Mối liên quan giữa giấc ngủ và tăng trưởng ở trẻ từ 5 – 8 tuổi

    Ngủ đủ giấc là yếu tố vô cùng quan trọng đối với trẻ bởi nhiều lý do khác nhau, từ việc hồi phục năng lượng cho cơ thể hoạt động cho tới hoàn thiện các chức năng não bộ. Các bằng chứng khoa học còn chỉ ra rằng giấc ngủ giúp hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ.

Xem thêm