Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Viêm gan C là gì?

Viêm gan C là bệnh do virus Hepatitis C gây ra. Virus này cùng họ với virus gây viêm gan A và viêm gan B. Tuy nhiên, 3 loại virus này gây ra những ảnh hưởng khác nhau và có đường lây khác nhau. Virus viêm gan C có thể phá hoại nghiêm trọng tới gan, suy giảm chức năng gan, un thư gan và thậm chí gây tử vong.

Bệnh viêm gan C lây truyền như thế nào?

Viêm gan C là một bệnh truyền qua đường máu. Thông thường, virus sẽ xâm nhập vào cơ thể thông qua vết thương hở trên da.

Con đường dễ lây virus viêm gan C nhất là qua việc tiêm truyền. Dùng chung bơm kim tiêm với người bị viêm gan C có thể nhiễm virus. Bác sỹ và nhân viên y tế có thể nhiễm virus viêm gan C qua các vêt thương do bị kim đâm.

Với một vài người, virus viêm gan C lây qua đường truyền máu. Hiếm gặp hơn là trẻ sơ sinh nhiễm virus viêm gan C do mẹ của chúng nhiễm loại virus này.

Viêm gan C cũng có thể lây qua đường tình dục hoặc sử dụng chung đồ dùng cá nhân (như bàn chải đánh răng hoặc dao cạo râu). Tuy nhiên, những trường hợp này rất hiếm gặp.

Dấu hiệu và triệu chứng của viêm gan C

70-80% bệnh nhân mắc viêm gan C không biểu hiện triệu chứng gì, đặc biệt là trong giai đoạn sớm. Ở những người này, các triệu chứng có thể biểu hiện sau vài năm, thậm chí vài chục năm sau đó, khi gan bắt đầu bị tổn thương.

Những người khác biểu hiện triệu chứng sau khi nhiễm virus từ 2 tuần đến 6 tháng, trung bình là sau 6-7 tuần. Người mới nhiễm virus có thể sẽ bị sốt nhẹ hoặc sốt cao, mệt mỏi, đau bụng, mất vị giác, buồn nôn, nôn, đau khớp, nước tiểu sẫm màu, phân có màu đất sét hoặc vàng da.

Người nhiễm virus viêm gan C nhưng không có triệu chứng vẫn có thể lây nhiễm virus cho những người khác.

Biến chứng của viêm gan C

Nhiễm virus viêm gan C mãn tính là một tình trạng bệnh lý kéo dài với nhiều biến chứng nghiêm trọng như các bệnh về gan, xơ gan, sẹo gan hoặc ung thư gan. Những biến chứng này có thể phát triển trong vòng 20-30 năm sau khi nhiễm virus.

Điều trị viêm gan C

Điều trị viêm gan C phụ thuộc vào việc nhiễm virus viêm gan C là mãn tính hay cấp tính, và phụ thuộc vào chủng virus, lượng virus trong cơ thể, mức độ phá hủy gan, tác dụng của những phương pháp điều trị trước đó và tình trạng bệnh tình của người bệnh.

Thuốc điều trị viêm gan C bao gồm interferon (thuốc ức chế sản sinh virus), pegylated interferon (phối hợp interferon với polyethylen glycon), ribavirin, telaprevir, simprevir và sofosbuvir. Mục tiêu của điều trị là đáp ứng virus bền vững, nghĩa là sẽ không phát hiện ra virus trong máu trong vòng 6 tháng sau điều trị.

Một số người mắc viêm gan C và gan đã bị phá hủy nghiêm trọng sẽ phải tiến hành ghép gan nhưng điều này không có nghĩa là sẽ loại bỏ được hoàn toàn virus. Virus viêm gan C vẫn có thể phát triển trên lá gan mới được cấy ghép.

Thỉnh thoảng, người bệnh vẫn bị tái nhiễm virus kể cả khi đang được điều trị thuốc kháng virus. Những người đã có đáp ứng virus bền vững sẽ ít có nguy cơ phát triển virus trên lá gan mới được ghép.

Có vacxin phòng chống viêm gan C không?

Chưa có vacxin nào có tác dụng dự phòng viêm gan C, mà mới chỉ có vắc xin phòng viêm gan A và viêm gan B

Phòng chống viêm gan C

Viêm gan C là một bệnh lây qua đường máu. Để giảm nguy cơ nhiễm bệnh, không nên dùng chung đồ dùng cá nhân như bàn chải hay dao cạo với người khác.

Nếu phải tiêm thuốc, không dùng chung bơm tim kiêm với người khác.

Xăm mình hoặc làm móng cũng có thể có nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan C, do vậy cần sử dụng riêng các dụng cụ này.

Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục là biện pháp bảo vệ an toàn với virus viêm gan C lây qua đường tình dục.

Bình luận
Tin mới
  • 31/07/2026

    Mỗi ngày nên uống bao nhiêu nước để chống chọi với nắng nóng mùa hè?

    Những đợt nắng nóng ngày càng xuất hiện dày đặc và gay gắt hơn, khiến nhu cầu bù nước của cơ thể tăng lên đáng kể. Không ít người vẫn đợi đến khi khát mới uống nước, trong khi đó lại là dấu hiệu cho thấy cơ thể đã bắt đầu thiếu nước.

  • 31/07/2026

    Biện pháp phòng tránh sốc nhiệt, đột quỵ do nắng nóng

    Mùa hè năm nay ghi nhận những đợt nắng nóng kỷ lục, làm tăng mạnh nguy cơ đột quỵ, tai biến và suy kiệt do mất nước - đặc biệt ở người già và người có bệnh nền. Trước tình hình này, chuyên gia khuyến cáo người dân cần chủ động thực hiện ngay các biện pháp phòng bệnh để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình.

  • 30/07/2026

    Có nên ngâm trứng vào nước lạnh sau khi luộc?

    Ngâm trứng vào nước lạnh ngay sau khi luộc là thói quen của nhiều người giúp vỏ trứng dễ bóc hơn. Tuy nhiên lại có một số thông tin cho rằng ngâm nước như vậy trứng dễ bị nhiễm khuẩn. Thực hư thế nào?

  • 30/07/2026

    Bệnh ghẻ ở trẻ em

    Bệnh ghẻ (scabies) là một trong những bệnh da liễu thường gặp ở trẻ em, đặc biệt trong môi trường đông đúc, vệ sinh chưa đảm bảo như nhà trẻ, trường học hoặc khu dân cư có điều kiện sinh hoạt hạn chế. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm trên toàn cầu ghi nhận từ 200–300 triệu ca mắc ghẻ, một con số cho thấy mức độ phổ biến đáng báo động.

  • 29/07/2026

    Loại đồ uống làm tăng nguy cơ ung thư hơn cả đồ ăn ngọt

    Nhiều chuyên gia khẳng định đồ uống này là mối lo ngại lớn làm tăng nguy cơ ung thư, đồng thời gợi ý những món ngọt thay thế lành mạnh.

  • 29/07/2026

    Uống trà đá có thể thay thế nước lọc không?

    Trà đá (trà pha để nguội rồi thêm đá) là thức uống giải khát quen thuộc. Nhiều người cho rằng uống trà đá cũng giống như uống nước lọc vì đều giúp bổ sung nước cho cơ thể. Quan niệm này có hoàn toàn đúng không?

  • 29/07/2026

    Cảm lạnh do điều hòa

    Bước vào những ngày hè oi bức của năm 2026, đặc biệt là tại khu vực Thủ đô và các tỉnh miền Bắc, chiếc điều hòa nhiệt độ đã trở thành "vị cứu tinh" không thể thiếu trong các gia đình và văn phòng. Tuy nhiên, việc lạm dụng điều hòa, đặc biệt là thói quen cài đặt nhiệt độ quá thấp để thỏa mãn cảm giác mát lạnh tức thì, lại chính là thủ phạm hàng đầu dẫn đến hội chứng "cảm lạnh điều hòa".

  • 28/07/2026

    Ăn quá nhiều đậu bắp có hại gì? Những tác hại ít ai ngờ tới

    Đậu bắp giàu dưỡng chất nhưng ăn quá nhiều có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe hệ tiêu hóa, thận và xương khớp.

Xem thêm