1. Tổng quan ung thư gan nguyên phát
Ung thư gan xuất hiện khi các tế bào gan bắt đầu phát triển bất thường và hình thành một khối u ác tính. Theo thống kê trên 80% ung thư gan là ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư này xảy ra ở nam gấp đôi nữ và thường gặp ở tuổi trên 50.
Ung thư gan nguyên phát được chia nhỏ hơn nữa thành 4 loại dựa vào điểm xuất phát của ung thư trong gan:
-Ung thư biểu mô tế bào gan – xuất phát từ các tế bào gan và nó phổ biến hơn ở nam giới và những người bị xơ gan. Đây là loại ung thư gan phổ biến nhất.
-Ung thư đường mật – đôi khi còn được gọi là ung thư ống mật, nó xuất phát ở ống mật trong gan.
-U nguyên bào gan – thường thấy ở trẻ em dưới 4 tuổi
-U máu ác tính – xuất phát trong mạch máu gan và phát triển rất nhanh.

Xơ gan chiếm 80% trường hợp ung thư gan nguyên phát.
2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ ung thư gan nguyên phát
Theo nghiên cứu, ung thư tế bào gan nguyên phát là dạng ung thư gan phổ biến nhất chiếm 80% trường hợp mắc ung thư gan. Ung thư tế bào gan nguyên phát bắt đầu xảy ra từ tế bào gan. Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân ung thư gan nguyên phát nhưng viêm gan do virus mạn tính, xơ gan là yếu tố nguy cơ ung thư gan nguyên phát. Xơ gan chiếm 80% truờng hợp ung thư gan nguyên phát. Dạng khác của ung thư gan là ung thư đường mật. Đây là ung thư xuất phát từ ống dẫn mật và nguyên nhân là do viêm xơ chai đường mật nguyên phát. Ung thư đường mật có thể do nhiễm ký sinh trùng , chẳng hạn như sán lá nhỏ. Ung thư này phát triển theo đường dẫn mật, rất khó thấy trên phim X quang.
Theo nghiên cứu, hầu hết những bệnh nhân ung thư gan có ghi nhận một hoặc vài yếu tố nguy cơ sau:
- Xơ gan: Có nhiều nguyên nhân gây xơ gan nhưng thường là do uống rượu và viêm gan siêu vi C. Tuy nhiên, chỉ một số ít bệnh nhân ung thư gan tiến triển thành ung thư gan.
- Viêm gan B hoặc viêm gan siêu vi C lâu dài. Thông thường phải mất khoảng 20-30 năm sau khi nhiễm bệnh mới xuất hiện ung thư gan. Nhiễm viêm gan virus rất phổ biến ở châu Á và châu Phi. Rất nhiều trẻ nhỏ ở đây nhiễm viêm gan siêu vi B, đó là lí do ung thư gan ở những vùng này thường gặp ở người trẻ tuổi.
- Hóa chất hoặc độc tố. Ví dụ như aflatoxin, là chất thường bị nhiễm trong một số loại thực phẩm như hạt đậu phộng bị mốc. Vấn đề này chủ yếu xảy ra ở các nước đang phát triển.
- Một số tình trạng viêm nhiễm kéo dài của đường ruột như viêm loét đại tràng, làm tăng nhẹ nguy cơ ung thư đường mật.
- Một số bằng chứng cho thấy hút thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ ung thư gan.
- Nhiễm ký sinh trùng (sán lá gan). Chủ yếu xảy ra ở châu Phi và châu Á làm tăng nguy cơ xuất hiện ung thư đường mật.
3. Triệu chứng ung thư gan nguyên phát
Ung thư gan hiếm khi được chẩn đoán ở giai đoạn sớm vì các bệnh nhân không có triệu chứng gì trừ khi họ đi kiểm tra sức khỏe định kỳ.
Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng đầu tiên có thể khá mơ hồ và không đặc hiệu như cảm thấy không khỏe, khó chịu (buồn nôn), chán ăn, sụt cân và mệt mỏi. Nhiều người mắc bệnh ung thư gan nguyên phát đã có các triệu chứng liên quan đến xơ gan từ trước. Do đó, nếu đang bị xơ gan mà sức khỏe của bạn diễn tiến xấu đi khá nhanh thì có khả năng đã xuất hiện ung thư gan.
Khi ung thư tiến triển xa hơn nữa, các triệu chứng đặc hiệu có thể xuất hiện bao gồm: Đau bụng ở vị trí của gan; Vàng da và niêm mạc. Triệu chứng bắt đầu xuất hiện trước tiên ở tròng trắng của mắt sau đó vàng dần dần toàn thân. Vàng da xuất hiện do ung thư gây tắc nghẽn ống mật làm bilirubin không được bài tiết xuống ruột và thấm vào máu.
Người bệnh còn có biểu hiện ngứa, bụng to do khối ung thư phát triển to hoặc do tụ dịch trong ổ bụng gây ra bởi các rối loạn chức năng gan. Sức khỏe người bệnh xấu đi đối với những bệnh nhân bị viêm gan hoặc xơ gan.
4. Chẩn đoán và điều trị ung thư gan nguyên phát
Để chẩn đoán ung thư gan nguyên phát các bác sĩ sẽ chỉ định xét nghiệm máu – xét nghiệm chức năng gan có thể bất thường và chỉ điểm khối u cụ thể (AFP) có thể tăng cao. Chẩn đoán hình ảnh – siêu âm, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ hoặc chụp mạch.
Sinh thiết gan – có thể được thực hiện tù mù hoặc có sự hướng dẫn của hình ảnh (siêu âm hoặc hình ảnh cắt lớp) hoặc nhìn trực tiếp (nội soi hoặc mở).
5. Điều trị ung thư gan nguyên phát
Hiện nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, có rất nhiều phương pháp để điều trị bệnh ung thư gan hay còn gọi là điều trị đa mô thức. Nếu khối u lưu trú còn nhỏ, chức năng gan tốt thì phẫu thuật sẽ hiệu quả.
Tùy từng cá nhân điều trị phụ thuộc vào giai đoạn bệnh gan, chức năng gan, và tuổi tác của bệnh nhân và tình trạng sức khỏe:
Nút mạch bằng hóa chất để kiểm soát hoặc thậm chí làm khối u co nhỏ lại;
Đốt sóng cao tần (RFA) được thực hiện qua kỹ thuật có hướng dẫn của hình ảnh (cắt lớp hoặc siêu âm) hoặc trong phẫu thuật;
Tiêm hoạt chất phóng xạ– đưa phóng xạ thẳng tới khối u. Ở những bệnh nhân bị ung thư gan di căn, hóa trị hệ thống có thể được cân nhắc. Có thể qua đường uống hoặc tiêm.
Phẫu thuật: Dễ dàng với ung thư khi nó vẫn nằm trong gan. Phẫu thuật có thể cắt bỏ cục bộ, được xác định khối u chỉ nằm trong gan và có thể phẫu thuật cắt bỏ, khi chức năng gan vẫn tốt. Ghép gan trong trường hợp ung thư gan không phẫu thuật được khi có xơ gan hoặc khối u phát triển trong phạm vi hai thùy gan trở lên.
Tóm lại
Phòng bệnh là phương pháp tốt nhất chống ung thư gan. Phải nỗ lực làm giảm xơ gan, phát hiện sớm và điều trị viêm gan virus mạn tính. Các thuốc điều trị viêm gan virus mạn tính, thuốc chống siêu vi cũng có thể làm giảm tỉ lệ ung thư gan.
Vaccin chống siêu vi A, B rất cần thiết, đặc biệt với người viêm gan C. Không nên uống rượu. Phải khám sức khỏe định kỳ những người có nguy cơ nhằm phát hiện ung thư gan sớm.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Nút mạch trong điều trị ung thư gan nguyên phát thực hiện khi nào?
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.