Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Trẻ không ăn dầu mỡ dễ chậm lớn, suy dinh dưỡng

Chất béo trong thực phẩm, các loại dầu mỡ… rất cần thiết cho trẻ nhỏ để hấp thụ nhiều loại vitamin khác. Việc quá kiêng khem dầu mỡ trong chế độ ăn dễ khiến trẻ suy dinh dưỡng.

Trẻ không ăn dầu mỡ dễ chậm lớn, suy dinh dưỡng  - Ảnh 1.

Vai trò của dầu mỡ với sức khỏe trẻ

Theo BS Nguyễn Văn Tiến, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, dầu là một trong 2 dạng của lipid (chất béo), dầu còn gọi là chất béo thực vật vì nó được tạo ra từ các thực phẩm từ nguồn gốc thực vật (lạc, đậu tương, vừng...). Mỡ còn gọi là chất béo động vật bởi nó được tạo ra từ các thực phẩm có nguồn gốc từ động vật (lợn, gà, bò, cá...).

Dầu/mỡ là thực phẩm rất giàu năng lượng so với các loại thực phẩm khác. 1g chất béo cho 9kcal trong khi 1g chất đạm hoặc chất bột đường chỉ cho khoảng 4kcal.

Chất béo là dung môi cho các vitamin tan trong dầu: vitamin A, D, E, K. Nó có tác dụng hóa lỏng thức ăn và tăng đậm độ năng lượng trong thức ăn cho trẻ. Vì vậy, trong bữa ăn hàng ngày của trẻ nếu thiếu dầu hoặc mỡ thì các vitamin tan trong dầu có trong thức ăn sẽ không được hấp thu. Đồng thời thức ăn của trẻ đậm đặc khó nuốt và năng lượng trong khẩu phần ăn của trẻ hàng ngày sẽ không đủ so với nhu cầu làm trẻ chậm lớn, suy dinh dưỡng.

Theo khuyến nghị nhu cầu dinh dưỡng cho người Việt Nam, với trẻ bú mẹ hoàn toàn thì 50 - 60% năng lượng ăn vào là do chất béo của sữa mẹ cung cấp. Trẻ từ 6 - 11 tháng năng lượng do chất béo cung cấp là 40% và 35 - 40% năng lượng từ chất béo cung cấp với trẻ từ 1 - 3 tuổi

Cơ thể trẻ đang phát triển rất nhanh, rất cần acid arachidonic, một axít béo không no có nhiều trong mỡ động vật. Do đó trong khẩu phần ăn của trẻ tỉ lệ cân đối giữa chất béo động vật và chất béo thực vật là 70% và 30%. Trong bữa ăn bổ sung của trẻ không thể thiếu chất đạm, chất đạm có chất béo động vật. Nhưng chất béo cũng không cung cấp đủ so với nhu cầu của trẻ. Vì thế cần phải cho thêm dầu hoặc mỡ vào khẩu phần ăn của trẻ theo tỉ lệ một bữa dầu, một bữa mỡ.

Ăn luân phiên 1 bữa mỡ, 1 bữa dầu

Dầu là chất béo thực vật, chứa nhiều axít béo không no (dầu vừng, lạc, đậu tương, cá), nhưng một số loại chứa nhiều axít béo no (dầu cọ, dầu dừa). Vậy khi cho dầu vào bữa ăn của trẻ nên chọn loại chứa nhiều axít béo không no.

Dầu ăn của gia đình hàng ngày, hoàn toàn tốt khi cho trẻ ăn. Dầu còn lại sau mỗi lần chiên rán không cho trẻ ăn, thậm chí người lớn cũng không nên dùng.

Cơ thể đang phát triển nhanh, trẻ cần ăn cả chất béo động vật và thực vật theo tỉ lệ 1:1 (một bữa mỡ, một bữa dầu). Dầu ăn dùng cho trẻ em như: dầu oliu, dầu gấc, dầu cá... có chứa các axít béo cần thiết, các vitamin cũng như các dầu thông thường khác. Dầu dùng cho trẻ em là đối tượng chuyên biệt, nếu có điều kiện dùng thì tốt hơn các dầu thông thường.

Quy trình chế biến thức ăn cho trẻ

Theo cuốn Sổ tay cho bé ăn bổ sung của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, quy trình chế biến thức ăn cho trẻ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. Nguyên liệu, cách nấu, bảo quản… phải đảm bảo nguyên tắc đủ dinh dưỡng, vệ sinh để trẻ phát triển tốt nhất.

Sơ chế thực phẩm: Cần sử dụng thực phẩm tươi, sạch, sẵn có tại địa phương để nấu cho trẻ. Trước khi nấu cần phải sơ chế và rửa sạch sẽ thực phẩm bằng nước sạch.

Thịt/ cá: rửa sạch, lọc bỏ gân xơ/ xương, thái, băm/ nghiền nhỏ, hòa vào chút nước đánh cho tan đều nếu cần. Hoặc có thể luộc cá, lấy nước nấu bột cho trẻ, gỡ cá lấy thịt nghiền nát.

Trứng gà/ vịt: tách bỏ lòng trắng đối với trẻ nhỏ dưới 12 tháng, lấy lòng đỏ, quấy tan. Tôm: nhặt tôm, bóc vỏ, lột chỉ đen, băm nhỏ. Giã vỏ tôm lọc lấy nước nếu cần. Lạc, đậu xanh giã hoặc nghiền nhỏ mịn;

Cua: rửa sạch, nhặt sạch, lấy gạch, giã nhỏ cua, lọc lấy nước lọc cua; Rau: nhặt sạch, rửa sạch, xay/thái/băm nhỏ; Nếu nấu bột thì đong đo đủ lượng bột cần thiết. Nếu nấu cháo: có thể nấu sẵn một nồi cháo trắng và mỗi lần ăn thì đong đủ lượng cần thiết và thêm nước vừa đủ.

Khi chuẩn bị bột hay cháo cho trẻ, bạn hãy nhớ thực hiện theo các bước sau:

Với bột: Cho bột và nước vào nồi và quấy đều nhẹ nhàng cho đến khi bột trở nên đặc. Đậy vung và đun nhỏ lửa. Với cháo: nấu chín cháo trắng hoặc đun sôi cháo sơ chế.

Cho thịt/ cá/ tôm/ gan xay../ băm nhuyễn vào và quấy đều đun sôi vài phút để bột và thịt/ cá… đủ chín. Nếu là bột trứng, đánh tan lòng đỏ, đặt nồi ra ngoài cho bột hơi nguội rồi đổ trứng vào quấy đều tay để tránh vón. Sau đó đặt bếp lên đun tiếp.

Với trẻ mới tập ăn, có thể cho bột với thịt hòa lẫn với nước ngay từ đầu đun kỹ cho cả bột và thịt đủ chín. Trẻ lớn hơn ăn được cả cái thì có thể chế biến xào thịt/ cá/ tôm đã băm nhỏ trước cho thơm và khi bột/ cháo chín cho vào quấy cùng.

Khi bột/ cháo đã gần chín, cho rau băm nhỏ vào. Cho rau vào cuối cùng là cực kỳ quan trọng để đảm bảo vitamin và khoáng chất trong rau không bị phân hủy do quá nóng.

Cho một lượng nhỏ dầu ăn, nước mắm/ muối i-ốt và quấy đều. Cần sử dụng nước mắm/ bột canh/ muối có i-ốt cho trẻ. Với trẻ dưới 1 tuổi khuyến khích không cho muối/ mắm vì trong thực phẩm đã chứa 1 lượng natri.

Kiểm tra bột đã chín chưa: đổ bột ra róc nồi, để nguội có độ vồng, bên trong không bị vữa.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Có nên ăn dầu mỡ và tác dụng của dầu mỡ với sức khỏe của trẻ em.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Bình luận
Tin mới
  • 27/04/2026

    3 bí quyết trị thâm và khôi phục sắc môi hồng tự nhiên

    Đôi môi hồng hào, tươi tắn không chỉ là biểu tượng của vẻ đẹp rạng rỡ mà còn phản ánh tình trạng sức khỏe tốt. Tuy nhiên, do tác động từ môi trường, thói quen sinh hoạt hoặc việc sử dụng mỹ phẩm không đảm bảo, nhiều người phải đối mặt với tình trạng môi thâm xỉn, khô ráp.

  • 27/04/2026

    Máu khó đông là gì? Hiểu đúng để không hoảng sợ.

    Bệnh máu khó đông (Hemophilia) là một rối loạn di truyền khiến cơ thể không có khả năng cầm máu hiệu quả do thiếu hụt yếu tố đông máu. Sự thiếu hiểu biết về căn bệnh này thường dẫn đến tâm lý lo âu và những lầm tưởng không đáng có, gây rào cản trong việc phát hiện và hỗ trợ người bệnh. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chính xác về căn bệnh này. Việc hiểu đúng bản chất khoa học không chỉ giúp bệnh nhân chủ động quản lý sức khỏe mà còn tạo môi trường thấu hiểu, giúp họ tự tin hòa nhập xã hội.

  • 26/04/2026

    Ăn nấm mỗi ngày có tác dụng gì?

    Ăn nấm mỗi ngày trong một tuần có thể mang lại lợi ích rõ rệt cho tiêu hóa, miễn dịch và năng lượng...

  • 26/04/2026

    Cảnh giác những bệnh phổ biến có thể lây từ thú cưng sang người

    Thú cưng mang lại niềm vui và lợi ích tinh thần to lớn cho chúng ta. Tuy nhiên, chó, mèo và các vật nuôi khác cũng có thể mang theo mầm bệnh nguy hiểm. Dưới góc độ y tế, những căn bệnh này được gọi là bệnh lây truyền từ động vật sang người. Việc hiểu rõ các nguy cơ này không phải để xa lánh thú cưng, mà để chúng ta có biện pháp bảo vệ sức khỏe cho cả gia đình và vật nuôi.

  • 25/04/2026

    Nguồn tự nhiên cung cấp vitamin và khoáng chất thiết yếu tốt nhất

    Vitamin và khoáng chất đóng vai trò thiết yếu với mọi hoạt động sống của cơ thể. Hiểu rõ nhu cầu, công dụng và các nguồn thực phẩm tự nhiên giàu các vi chất, giúp xây dựng chế độ ăn cân đối, khoa học.

  • 25/04/2026

    Ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới

    Ung thư tiền liệt tuyến là một trong những bệnh lý thường gặp ở nam giới cao tuổi trên toàn cầu. Mặc dù tỉ lệ giống sót sau 5 năm vẫn tương đối cao, nhưng ung thư tiền liệt tuyến vẫn là nguyên nhân gây tử vong thứ hai tại các nước Tây. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ chế bệnh, các yếu tố nguy cơ và môi trường phát triển bệnh, những tiến bộ của y học trong chẩn đoán và điều trị bệnh, cũng như vấn đề giám sát chủ động.

  • 24/04/2026

    5 lợi ích khi đi bộ 1 km mỗi ngày

    Chỉ cần đi bộ 1 km mỗi ngày, tương đương 10–15 phút, có thể mang lại nhiều lợi ích cho tim mạch, tinh thần và cân nặng. Đây là thói quen đơn giản, dễ duy trì, phù hợp với người bận rộn.

  • 24/04/2026

    Dấu hiệu cảnh báo đau tim ở phụ nữ

    Các dấu hiệu của cơn đau tim có thể khác nhau ở phụ nữ so với nam giới, ngoài các dấu hiệu chung như đau ngực, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa...

Xem thêm