Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Tiêm phòng vaccine sởi có gây tự kỷ?

Tiêm chủng là một biện pháp phòng ngừa hiệu quả và an toàn nhằm bảo vệ trẻ em khỏi nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua đã tồn tại những tranh cãi về mối liên hệ giữa vaccine MMR (sởi, quai bị, rubella) và nguy cơ tự kỷ ở trẻ em.

Vaccine MMR (Measles, Mumps, Rubella) là một loại vaccine phối hợp được sử dụng để phòng ngừa 3 bệnh truyền nhiễm sau:

1. Sởi (Measles): Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus sởi gây ra. Triệu chứng chính bao gồm sốt cao, ho, chảy nước mũi và ban đỏ trên da. Sởi có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm não, điếc hoặc tử vong.

2. Quai bị (Mumps): Là bệnh đường hô hấp trên cấp tính do virus quai bị gây ra. Triệu chứng chính là sưng tấy tuyến nước bọt (tuyến mũi), đặc biệt là tuyến nước bọt mang tai. Quai bị cũng có thể gây ra các biến chứng như viêm não, viêm tinh hoàn (ở nam giới).

3. Rubella (Sởi Đức): Là bệnh đường hô hấp trên nhẹ do virus Rubella gây ra. Triệu chứng chính là phát ban, sốt nhẹ, viêm hạch. Rubella thường gây nguy hiểm cho phụ nữ mang thai, có thể dẫn đến sẩy thai, sinh non hoặc trẻ bị dị tật bẩm sinh.

Vaccine MMR là vaccine sống điều chỉnh, được tiêm phòng cho trẻ em nhằm giúp cơ thể hình thành kháng thể chống lại 3 loại virus này. Việc tiêm chủng MMR an toàn, hiệu quả và giúp phòng ngừa những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên. Tuy nhiên, vaccine MMR không tránh khỏi những tranh cãi. Năm 1998, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí The Lancet cho rằng vaccine MMR có liên quan đến những nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng ở trẻ em, bao gồm tự kỷ và bệnh viêm đại tràng.

Nhưng đến năm 2010, tạp chí đã thu hồi nghiên cứu đó, đề cập đến những sai phạm trong nghiên cứu, dẫn đến thông tin không chính xác. Kể từ đó, nhiều nghiên cứu khác nhau đã được thực hiện để tìm kiếm mối liên hệ giữa vaccine MMR và hội chứng tự kỷ. Kết quả là không có mối liên hệ nào được tìm thấy.

Những ai nên tiêm vaccine MMR?

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), tuổi khuyến cáo để tiêm vaccine MMR là:

  • Trẻ em từ 12 - 15 tháng tuổi cho liều đầu tiên
  • Trẻ em từ 4 - 6 tuổi cho liều thứ hai
  • Người lớn từ 18 tuổi trở lên nên tiêm một liều

Trước khi đi du lịch đến các quốc gia khác, trẻ em từ 6 - 11 tháng tuổi nên tiêm ít nhất liều đầu tiên. Trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên nên được tiêm cả hai liều trước khi đi du lịch.

Trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên đã tiêm ít nhất một liều vaccine MMR nhưng được coi là có nguy cơ mắc bệnh quai bị cao hơn trong thời gian có dịch bệnh thì nên tiêm thêm một liều vaccine quai bị.

Trong mọi trường hợp, các liều nên được tiêm cách nhau ít nhất 28 ngày.

Đọc thêm tại bài viết: Những lưu ý về Vaccin MMR - Sởi, Quai bị, Rubella

Ai không nên tiêm vaccine MMR?

CDC cung cấp một danh sách những người không nên tiêm vaccine MMR, bao gồm;

  • Đã từng có phản ứng dị ứng nghiêm trọng hoặc nguy hiểm tới tính mạng với neomycin hoặc một thành phần khác của vaccine
  • Đã từng có phản ứng nghiêm trọng với liều MMR hoặc MMRV (sởi, quai bị, rubella và thủy đậu) trước đó
  • Đang mắc ung thư hoặc đang trải qua các điều trị ung thư làm suy giảm hệ thống miễn dịch
  • Mắc HIV, AIDS hoặc một rối loạn miễn dịch khác
  • Đang dùng bất kỳ loại thuốc nào ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, chẳng hạn như corticosteroid
  • Mắc bệnh lao

Ngoài ra, bạn nên hoãn tiêm vaccine MMR nếu:

  • Hiện đang mắc bệnh vừa phải đến nặng
  • Đang mang thai
  • Gần đây đã được truyền máu hoặc mắc một tình trạng khiến bạn dễ chảy máu hoặc bầm tím
  • Đã tiêm một loại vaccine khác trong vòng 4 tuần qua

Nếu bạn có thắc mắc về việc bạn hoặc con bạn có nên tiêm vaccine MMR hay không, hãy trao đổi thêm với bác sĩ.

Vaccine MMR và rối loạn phổ tự kỷ

Vaccine MMR lần đầu được giới thiệu vào năm 1971 ở Mỹ. Một số nghiên cứu đã xem xét mối liên hệ giữa vaccine MMR và tự kỷ dựa trên sự gia tăng số ca tự kỷ kể từ năm 1979.

Tuy nhiên, một nghiên cứu vào năm 2001 đã kết luận không tìm thấy sự gia tăng số ca tự kỷ sau khi tiêm vaccine MMR. Thay vào đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng số lượng ca tự kỷ ngày càng tăng nhiều là do sự thay đổi trong cách các bác sĩ chẩn đoán tự kỷ.

Các nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự, 67 nghiên cứu về tính an toàn của vaccine MMR đã kết luận rằng vaccine MMR không liên quan đến sự khởi phát tự kỷ ở trẻ em. Một nghiên cứu đáng tin cậy năm 2015 cũng khẳng định rằng, ngay cả đối với trẻ em có anh chị em mắc tự kỷ, cũng không có nguy cơ tăng tự kỷ liên quan đến vaccine MMR. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng thống nhất rằng: không có bằng chứng cho thấy vaccine MMR gây ra tự kỷ.

Tổng kết, qua nhiều nghiên cứu nghiêm ngặt và những bằng chứng khoa học đáng tin cậy, chúng ta có thể thấy rõ rằng vaccine MMR không hề gây ra tự kỷ hay bất kỳ rủi ro sức khỏe nghiêm trọng nào khác ở trẻ em.

Việc tiêm chủng MMR đúng lịch trình vẫn là biện pháp an toàn và hiệu quả nhất để bảo vệ trẻ em khỏi những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Thay vì lo ngại vô cớ, cha mẹ nên tận dụng lợi ích to lớn của vaccine MMR để đảm bảo sức khỏe tốt nhất cho con trẻ.

Đọc thêm tại bài viết: Thủy đậu có bị mắc lại lần 2 không?

Hoàng Hà Linh - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Theo Healthline
Bình luận
Tin mới
  • 28/04/2026

    Thời điểm 'vàng' uống nước dừa làm đẹp da

    Nước dừa từ lâu được biết đến là một loại nước giải khát tự nhiên tuyệt vời, nhưng ít ai biết rằng đây còn là một kho tàng dưỡng chất cho vẻ đẹp của làn da.

  • 28/04/2026

    Thời tiết nắng nóng ảnh hưởng thế nào tới sức khỏe con người?

    Nắng nóng không chỉ đơn thuần là một sự khó chịu khi ở ngoài trời – đó còn là một mối nguy hiểm sức khỏe nghiêm trọng. Trên thực tế, sốc nhiệt là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến thời tiết trên toàn thế giới. Khi biến đổi khí hậu khiến nhiệt độ tăng cao và các đợt nắng nóng xuất hiện thường xuyên hơn, số lượng người phải tiếp xúc với nhiệt độ cực cao đang tăng lên mỗi năm.

  • 27/04/2026

    3 bí quyết trị thâm và khôi phục sắc môi hồng tự nhiên

    Đôi môi hồng hào, tươi tắn không chỉ là biểu tượng của vẻ đẹp rạng rỡ mà còn phản ánh tình trạng sức khỏe tốt. Tuy nhiên, do tác động từ môi trường, thói quen sinh hoạt hoặc việc sử dụng mỹ phẩm không đảm bảo, nhiều người phải đối mặt với tình trạng môi thâm xỉn, khô ráp.

  • 27/04/2026

    Máu khó đông là gì? Hiểu đúng để không hoảng sợ.

    Bệnh máu khó đông (Hemophilia) là một rối loạn di truyền khiến cơ thể không có khả năng cầm máu hiệu quả do thiếu hụt yếu tố đông máu. Sự thiếu hiểu biết về căn bệnh này thường dẫn đến tâm lý lo âu và những lầm tưởng không đáng có, gây rào cản trong việc phát hiện và hỗ trợ người bệnh. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chính xác về căn bệnh này. Việc hiểu đúng bản chất khoa học không chỉ giúp bệnh nhân chủ động quản lý sức khỏe mà còn tạo môi trường thấu hiểu, giúp họ tự tin hòa nhập xã hội.

  • 26/04/2026

    Ăn nấm mỗi ngày có tác dụng gì?

    Ăn nấm mỗi ngày trong một tuần có thể mang lại lợi ích rõ rệt cho tiêu hóa, miễn dịch và năng lượng...

  • 26/04/2026

    Cảnh giác những bệnh phổ biến có thể lây từ thú cưng sang người

    Thú cưng mang lại niềm vui và lợi ích tinh thần to lớn cho chúng ta. Tuy nhiên, chó, mèo và các vật nuôi khác cũng có thể mang theo mầm bệnh nguy hiểm. Dưới góc độ y tế, những căn bệnh này được gọi là bệnh lây truyền từ động vật sang người. Việc hiểu rõ các nguy cơ này không phải để xa lánh thú cưng, mà để chúng ta có biện pháp bảo vệ sức khỏe cho cả gia đình và vật nuôi.

  • 25/04/2026

    Nguồn tự nhiên cung cấp vitamin và khoáng chất thiết yếu tốt nhất

    Vitamin và khoáng chất đóng vai trò thiết yếu với mọi hoạt động sống của cơ thể. Hiểu rõ nhu cầu, công dụng và các nguồn thực phẩm tự nhiên giàu các vi chất, giúp xây dựng chế độ ăn cân đối, khoa học.

  • 25/04/2026

    Ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới

    Ung thư tiền liệt tuyến là một trong những bệnh lý thường gặp ở nam giới cao tuổi trên toàn cầu. Mặc dù tỉ lệ giống sót sau 5 năm vẫn tương đối cao, nhưng ung thư tiền liệt tuyến vẫn là nguyên nhân gây tử vong thứ hai tại các nước Tây. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ chế bệnh, các yếu tố nguy cơ và môi trường phát triển bệnh, những tiến bộ của y học trong chẩn đoán và điều trị bệnh, cũng như vấn đề giám sát chủ động.

Xem thêm