"Chính vì không biết nên cha mẹ không chủ động bổ sung dự phòng sắt – kẽm cho con, dẫn đến tình trạng trẻ em Việt thiếu trầm trọng 2 vi chất này. Tỷ lệ trẻ thiếu kẽm chiếm đến 60% và cứ 3 trẻ có 1 trẻ thiếu sắt. Đặc biệt, trẻ thiếu sắt thì thường đi đôi thiếu kẽm. Ngay cả khu vực thành thị, nơi có dân trí cao, tính đến 5 năm gần đây cũng chưa có sự cải thiện nào" - TS. BS Phan Bích Nga – Giám đốc Trung tâm Khám và Tư vấn dinh dưỡng (Viện dinh dưỡng quốc gia) cho biết.
Vậy con của bạn có thiếu sắt, kẽm không? Mẹ nên bổ sung sắt, kẽm cho con như thế nào? Hãy lắng nghe ý kiến chuyên gia.

Gần 60% trẻ em Việt thiếu kẽm, cứ 3 trẻ có 1 trẻ thiếu sắt
Thống kê của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy: có đến 60% trẻ dưới 5 tuổi thiếu kẽm và cứ 3 trẻ có 1 trẻ thiếu sắt. Đây là một con số đáng báo động.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do:
- Lượng sắt, kẽm dự trữ 3, 4 tuần cuối thai kỳ sang con chỉ dùng đủ trong 4 tháng đầu đời với điều kiện mẹ sinh đủ ngày đủ tháng và bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng trong quá trình mang thai.
- Lượng sắt trong sữa mẹ khá thấp, 1 lít sữa mẹ chỉ chứa 0,35mg sắt còn kẽm thì tốt hơn một chút là 2 – 3mg kẽm, tuy nhiên sau 3 tháng lượng kẽm trong sữa mẹ chỉ còn 0,9mg/lít. Với lượng sắt, kẽm như vậy trẻ phải dùng từ 17 đến 20 lít mỗi ngày mới đảm bảo đủ lượng sắt và kẽm cần thiết cho cơ thể.
- Tỷ lệ hấp thu sắt kẽm từ thức ăn khá thấp chỉ từ 5-15%, kẽm từ 10-30%, và các vi chất chủ yếu có trong đạm động vật như trứng, thịt bò, ghẹ, hàu… Trong khi trẻ bắt đầu ăn dặm trẻ tập với với tinh bột trước và các đạm tập dần sau với lượng nhỏ, dẫn đến trẻ thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng, điển hình là sắt và kẽm.
- Ngoài ra, trẻ em dễ bị nhiễm giun sán, rối loạn tiêu hóa thường xuyên gây giảm hấp thu sắt, kẽm.
Chính vì vậy, sau 6 tháng tuổi, tỷ lệ thiếu sắt kẽm ở trẻ có xu hướng tăng cao.
Đặc biệt, với những trường hợp sinh non, sinh con nhẹ cân, đa thai, suy dinh dưỡng bào thai, là trường hợp trẻ thiệt thòi do không nhận đủ sắt kẽm và các vi chất khác từ mẹ ngay trong giai đoạn thai kỳ, nên cha mẹ cần lưu ý bổ sung sắt kẽm cho con theo chỉ dẫn của bác sĩ để đảm bảo đủ vi chất cho trẻ phát triển.
Lượng sắt, kẽm tối thiểu trẻ cần trong ngày để phát triển tốt
Ở mỗi giai đoạn phát triển và mỗi độ tuổi khác nhau trẻ có nhu cầu sắt, kẽm khác nhau. Cha mẹ có thể tham khảo "Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam" do Nhà xuất bản Y học phát hành có hướng dẫn bổ sung nhu cầu sắt, kẽm của trẻ như sau:

Như vậy, theo bảng nhu cầu dinh dưỡng trên, nếu cha mẹ muốn bổ sung sắt, kẽm cho trẻ từ nguồn thực phẩm thì phải bổ sung một lượng khá lớn.
Cụ thể:
Bé trai 6 tháng tuổi, có mức hấp thu kẽm trung bình (20%), mức hấp thu sắt tốt (15%). Nhu cầu cần nạp trong 1 ngày: 4,1mg kẽm và 5,6mg sắt, tương tương với việc bé phải ăn một khối lượng lớn thịt ghẹ hay thịt bò mới đáp ứng đủ nhu cầu sắt, kẽm của một ngày.
Vậy, để đảm bảo đủ sắt, kẽm cho trẻ, cha mẹ nên chủ động bổ sung dự phòng nhu cầu hàng ngày cho bé để tránh việc thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng này kéo dài ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của trẻ.
Chuyên gia hướng dẫn cách bổ sung sắt, kẽm cho trẻ
Theo TS. BS Phan Bích Nga - Giám đốc Trung tâm khám tư vấn dinh dưỡng trẻ em, Viện Dinh dưỡng Quốc gia:
Đầu tiên nên lựa chọn sản phẩm có chứa cả sắt và kẽm đồng thời, trẻ đỡ phải uống nhiều lần, mẹ tiết kiệm được chi phí.
Khi bổ sung sắt kẽm cho trẻ sản phẩm đó phải dễ uống không có mùi tanh của sắt, vị chua chát của kẽm khiến cho trẻ sợ, buồn nôn và nếu mua về trẻ không uống thì cũng không có tác dụng gì.
Thứ 2, sản phẩm phải không có tác dụng phụ, trẻ uống vào không bị nôn, táo bón, tiêu chảy
Thứ 3, khi bổ sung sắt - kẽm cho trẻ nên chọn sắt, kẽm có tỷ lệ hấp thu cao, đặc biệt tỷ lệ sắt nhỏ hơn kẽm sẽ tối ưu hấp thu. Lưu ý, không chọn hàm lượng cao để bổ sung dự phòng vì nếu lượng sắt, kẽm thừa nhiều, không đào thải ra có thể sẽ dẫn đến tình trạng trẻ bị táo bón, ngộ độc.
Thứ 4, sản phẩm phải có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, được cấp phép bởi các cơ quan chức năng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai, bổ sung sắt như thế nào?
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!