Methadone là thuốc dùng để điều trị cho người nghiện ma túy?
Câu hỏi này khá quen thuộc từ những bệnh nhân và người nhà có kiến thức khi bác sĩ thông báo kê đơn Methadone để giảm đau. Trong khi sự thật là methadone được sử dụng để điều trị triệu chứng cai nghiện ma túy, methadone cũng là thuốc khá hiệu quả để điều trị đau vừa đến nặng.
Morphine được coi là loại thuốc chuẩn vàng trong kiểm soát đau, do vậy những loại opioid khác thường được so sánh với morphine về mặt hiệu quả, khả năng hấp thu cũng như chi phí.
Nếu morphine rất tuyệt vời như vậy, tại sao chúng ta lại phải sử dụng methadone?
Trả lời
Nếu chúng ta bắt đầu so sánh methadone với morphine, chúng ta cần bắt đầu với những nguyên tắc cơ bản của đau. Đau có thể được chia thành 2 nhóm theo giải thích sinh lí: đau cảm thụ và đau thần kinh. Đau cảm thụ thường do tổn thương mô (đau thân thể) hoặc tổn thương tạng (đau tạng). Đau thần kinh do tổn thương thần kinh ở hệ thần kinh trung ương hoặc ngoại biên.
Chúng ta có thụ thể trong não bộ cho phép cơ thể đáp ứng với thuốc giảm đau gây nghiện (opioid). Phần lớn những thụ thể này được chia thành thụ thể mu và thụ thể delta, một phần nhỏ thụt hể là NMDA. Đau thụ thể được tiếp nhận chủ yếu bằng receptor mu và đau thần kinh được tiếp nhận bởi thụ thể delta và NMDA; morphine chỉ gắn với thụ thể mu, trong khi methadone được gắn với cả ba loại thụ thể này.
Morphine có tác dụng hiệu quả trong điều trị nhiều loại đau, nhưng do khả năng của nó chỉ gắn với các thụ thể mu nên methadone có thể có tác dụng tốt hơn.
Ngộ độc opioid và tác dụng phụ
Các loại thuốc thuộc nhóm thuốc giảm đau gây nghiện (nhóm opioid) như morphine, tạo chất chuyển hóa trong khi chúng bị phá vỡ trong cơ thể. Những chất chuyển hóa này có thể tích tụ trong cơ thể và gây nên triệu chứng ngộ độc opioid.
Ngộ độc opioid là do dùng quá liều dẫn đến nồng độ ngộ độc trong cơ thể và gây nên những triệu chứng như bồn chồn, ảo giác, run và mệt.
Methadone không tạo nên những chất chuyển hóa và do đó không có liều cực đại. Methadone cũng dễ dàng được chuyển hóa ở gan, và do không tạo chất chuyển hóa khiến nó trở thành sự lựa chọn giảm đau cho nhiều bệnh nhân bị giảm chức năng gan hoặc suy thận.
Tác dụng phụ phổ biến của thuốc nhóm opioid bao gồm táo bón, buồn nôn và nôn, lơ mơ, ngứa, nhầm lẫn và suy hô hấp (khó thở). Nhiều bệnh nhân cho thấy giảm những tác dụng không mong muốn khi chuyển sang dùng methadone.
Những lợi ích khác của Methadone.
Methadone hiệu quả hơn morphine trong điều trị đau và thường ít tác dụng phụ hơn, nhưng tin tốt không chỉ có vậy. Những lợi ích khác của methadone là thời gian tác dụng kéo dài. Thời gian bán hủy là thời gian để một nửa lượng thuốc được chuyển hóa hoặc thải loại bởi quá trình sinh học bình thường.
Do thời gian bán hủy kéo dài, methadone có tác dụng giảm đau từ 8-10 tiếng, trong khi morphine chỉ giảm đau từ 2-4 tiếng. Điều này có nghĩa là dùng ít liều hơn cho bệnh nhân, thường là 2-3 lần mỗi ngày.
Và cuối cùng, methadone có giá cả hợp lí. Một tháng dùng methadone chỉ tốn khoảng 160 nghìn, trong khi dùng morphine thường tốn đến 2 triệu. Những thuốc gây nghiện khác, ví dụ như Oxycontin và Fentanyl sẽ đắt hơn.
![]()
Những cản trở khi dùng methadone
Đọc đến đây, bạn sẽ nghĩ rằng methadone là thuốc giảm đau tuyệt vời đúng không? Nếu như vậy, bạn có thể thắc mắc tại sao nó không được sử dụng thường xuyên hơn. Câu hỏi tương tự đã được đặt ra với nhiều bác sĩ, và kết quả cho thấy rằng, ngoài sự kì thị dành cho methadone, nhiều bác sĩ không thoải mái khi kê đơn có methadone.
Do thời gian bán hủy kéo dài, nó từ từ tích tụ trong cơ thể và mất 5-7 ngày để nồng độ ổn định. Trong thời gian này, bệnh nhân cần được theo dõi cẩn thận dấu hiệu ngộ độc. Điều này thường không phải là vấn đề với những bệnh nhân điều trị giảm đau hoặc chăm sóc giảm nhẹ, do họ được theo dõi sát sao và thường được đánh giá bởi y tá và bác sĩ 24 giờ. Một phòng khám tư của bác sỹ không có khả năng theo dõi bệnh nhân sát sao như vậy, là điều lo ngại của họ khi kê đơn methadone.
Một rào cản nữa là sự không sẵn lòng của bệnh nhân. Methadone vẫn được cho là thuốc dùng để điều trị cho bệnh nhân nghiện chất (heroin). Sự kì thị này đang dần được loại bỏ bởi bác sĩ về lợi ích của nó và cộng động quan sát thấy càng nhiều bệnh nhân thấy giảm đau khi dùng thuốc.
Tham khảo thêm bài viết Ngộ độc các thuốc nhóm Opioid (thuốc giảm đau gây nghiện)
Trong đời sống hiện đại, các trạng thái căng thẳng tinh thần mức nhẹ như mệt mỏi, khó tập trung, áp lực công việc hay rối loạn giấc ngủ thoáng qua ngày càng phổ biến. Phần lớn các tình trạng này chưa đến mức bệnh lý, nhưng nếu kéo dài có thể ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng sống và hiệu suất lao động.
Thời tiết lạnh kèm ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng không nhỏ tới phổi và hệ hô hấp. Bên cạnh tập luyện và dinh dưỡng nâng cao chức năng phổi, hãy tham khảo 7 loại thức uống dưới đây giúp hỗ trợ phổi khỏe mạnh tự nhiên.
Bạn bị nghẹt mũi, ho, và có thể cả đau họng. Có vẻ như đó là cảm lạnh thông thường. Nhưng sau vài ngày, các triệu chứng của bạn không thuyên giảm. Liệu cảm lạnh có thể biến thành viêm xoang không?
Trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều loài thảo mộc đã được sử dụng lâu đời như kim ngân hoa, cam thảo, cúc hoa… Tuy nhiên, bên cạnh các vị thuốc quen thuộc, vẫn tồn tại những thảo dược ít được chú ý, dù có giá trị sinh học đáng kể.
Hóa trị có thể giúp bạn chống lại ung thư , nhưng tác dụng phụ gần như chắc chắn. Bạn thường có một tâm trí mơ hồ, được gọi là " sương mù não do hóa trị ", trong và sau khi điều trị. Có thể bạn gặp khó khăn khi nhớ tên hoặc không thể làm nhiều việc cùng lúc tốt như trước đây.
Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thể chất và não bộ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh tại nước ta đang đối mặt với tình trạng trẻ khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay thức giấc ban đêm – đặc biệt ở nhóm trẻ có biểu hiện tăng động, hiếu động quá mức.
Sốt xuất huyết nhẹ gây sốt cao và các triệu chứng giống cúm. Sốt xuất huyết nặng, còn gọi là sốt xuất huyết Dengue, có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.
Khoảng 30–50% tử vong do ung thư có thể được phòng tránh bằng việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ đã biết: không hút thuốc, duy trì cân nặng hợp lý, ăn uống lành mạnh (nhiều rau củ quả), vận động đều đặn, hạn chế rượu và tuân thủ các chương trình tầm soát phù hợp.