Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Sự khác nhau giữa HIV và AIDS

Nhiễm HIV và AIDS không phải là tình trạng giống nhau, và chúng không cùng chẩn đoán. HIV là một loại virus tấn công một loại tế bào bạch cầu được gọi là tế bào CD4 trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nó làm giảm khả năng chống lại nhiễm trùng và bệnh tật của cơ thể. Cơ thể có thể chống lại nhiều loại virus, nhưng một số virus không bao giờ có thể bị loại bỏ hoàn toàn một khi chúng xuất hiện. HIV là một trong số này.

Điều trị bằng liệu pháp kháng virus có thể giảm thiểu tác dụng của virus bằng cách làm chậm hoặc ngăn chặn sự tiến triển của virus. Việc điều trị hiện có thể làm giảm lượng virus trong máu đến mức không thể phát hiện được nữa. Điều này có nghĩa là cơ thể vẫn khỏe mạnh và không thể lây truyền virus. 

AIDS là một hội chứng, hoặc một loạt các triệu chứng, có thể phát triển kịp thời ở một người nhiễm HIV không được điều trị. Một người có thể bị nhiễm HIV mà không phát triển thành AIDS, nhưng không thể bị AIDS mà không bị nhiễm HIV trước.

HIV khác với AIDS như thế nào?

Những người mắc HIV tuân theo một chế độ điều trị hiệu quả sẽ không bao giờ phát triển thành bệnh AIDS. Tuy nhiên, nếu không được điều trị, HIV tiếp tục phá hủy hệ thống miễn dịch. Điều này làm tăng nguy cơ phát triển nhiễm trùng cơ hội hoặc tình trạng sức khỏe. Một số tình trạng này có thể đe dọa tính mạng.

Các bệnh nhiễm trùng cơ hội

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) định nghĩa nhiễm trùng cơ hội là “nhiễm trùng xảy ra thường xuyên hơn và nghiêm trọng hơn ở những người có hệ miễn dịch suy yếu”. Ví dụ về các bệnh nhiễm trùng cơ hội và các bệnh khác có thể phát triển ở những người nhiễm HIV bao gồm:

  • các bệnh ung thư, chẳng hạn như ung thư cổ tử cung xâm lấn, ung thư phổi, sarcoma Kaposi, ung thư biểu mô và u lympho
  • bệnh nấm candida, một bệnh nhiễm trùng do nấm ở cổ họng hoặc phổi
  • cytomegalovirus, một bệnh nhiễm virus có thể gây mù và các biến chứng khác
  • viêm phổi do Pneumocystis, một dạng viêm phổi do nấm có thể gây tử vong
  • bệnh toxoplasmosis, một bệnh nhiễm ký sinh trùng ở não
  • bệnh lao, một bệnh nhiễm trùng phổi do vi khuẩn
  • cryptococcosis, một bệnh nhiễm trùng do nấm có thể dẫn đến viêm phổi

Cũng có thể có các bệnh đồng nhiễm trùng, đó là khi hai bệnh nhiễm trùng có xu hướng xảy ra cùng nhau, ví dụ, bệnh lao và bệnh cryptococcus, hoặc sự kết hợp của bệnh lao, viêm gan B và viêm gan C.

AIDS: Giai đoạn 3 của nhiễm HIV

AIDS là giai đoạn cuối (giai đoạn 3) của quá trình nhiễm HIV. Nó được chẩn đoán dựa trên số lượng tế bào CD4 hoặc sự phát triển của một hoặc nhiều bệnh nhiễm trùng cơ hội. Giai đoạn 1 là giai đoạn cấp tính của HIV và giai đoạn 2 là giai đoạn tiềm ẩn về mặt lâm sàng. Số lượng tế bào CD4 ở những người khỏe mạnh nằm trong khoảng từ 500 đến 1.600 tế bào trên một milimét khối máu (tế bào / mm3). Theo AIDS.gov, những người nhiễm HIV được coi là đã phát triển thành AIDS khi số lượng tế bào CD4 của họ giảm xuống dưới 200 tế bào / mm3. Nếu không được điều trị y tế, AIDS thường phát triển từ 2 đến 15 năm sau khi nhiễm virus HIV. Tốc độ tiến triển của virus phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tuổi của bệnh nhân, sức khỏe chung, di truyền, sự hiện diện của các bệnh nhiễm trùng khác và tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe.

Nguyên nhân của HIV và AIDS

Nguyên nhân của vấn đề được bắt nguồn từ một loại virus retrovirus, virus gây suy giảm miễn dịch ở người, HIV-1. HIV-1 lây truyền giữa người với người thông qua trao đổi chất lỏng của cơ thể. Virus này có thể được lây lan thông qua:

  • Quan hệ tình dục: HIV có thể lây truyền từ người này sang người khác thông qua quan hệ tình dục bằng miệng, hậu môn hoặc âm đạo không bao cao su, nếu một đối tác có nồng độ HIV trong máu của họ có thể phát hiện được
  • Mang thai hoặc sinh con: Người mẹ nhiễm virus HIV hoặc đã phát triển thành bệnh AIDS, có thể truyền virus này cho con mình trong khi mang thai, sinh con hoặc thậm chí qua con bú.
  • Lây truyền qua đường máu: Ngày nay, nguy cơ lây truyền virus theo cách này là cực kỳ thấp ở các nước phát triển, vì có hệ thống sàng lọc nghiêm ngặt.
  • Sử dụng ống tiêm và kim tiêm: Dùng chung dụng cụ tiêm chích ma túy với người khác làm tăng khả năng nhiễm virus.

Phòng chống HIV

Một số bước có thể được thực hiện để ngăn chặn sự lây nhiễm của HIV, bao gồm:

  • Điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP): Thực hiện thường xuyên, biện pháp này có thể ngăn ngừa HIV phát triển
  • Dự phòng sau phơi nhiễm (PEP): Đây là phương pháp điều trị khẩn cấp được đưa ra để giảm khả năng lây nhiễm HIV sau khi tiếp xúc với virus. Để có hiệu quả, phương pháp này nên được thực hiện trong vòng 72 giờ kể từ khi tiếp xúc và hoàn thành toàn bộ quá trình điều trị 28 ngày. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng PEP có thể làm giảm hơn 80% nguy cơ lây nhiễm HIV.
  • Sử dụng bao cao su: Nhiều bệnh nhiễm trùng, bao gồm cả HIV, có thể lây lan qua quan hệ tình dục không được bảo vệ. Sử dụng bao cao su có thể giúp bảo vệ khỏi nhiều vấn đề sức khỏe.
  • Thực hiện các bước trong thời kỳ mang thai: Nếu nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai, thuốc có thể giúp ngăn chặn virus ảnh hưởng đến đứa trẻ. Các bước bổ sung bao gồm sinh mổ và cho con bú bình thay vì cho con bú trong một số trường hợp nhất định. 
  • Tránh dùng chung bơm kim tiêm
  • Giảm tiếp xúc với chất dịch cơ thể: Nhân viên y tế nên sử dụng găng tay, khẩu trang và các hình thức bảo vệ hàng rào khác để giảm nguy cơ phơi nhiễm với các bệnh có thể lây qua đường máu, bao gồm cả HIV. Các biện pháp phòng ngừa khác bao gồm rửa da kỹ lưỡng và thường xuyên sau khi tiếp xúc với chất dịch cơ thể.

Một người được chẩn đoán nhiễm HIV có thể trì hoãn hoặc ngăn chặn AIDS phát triển bằng cách tìm cách điều trị sớm và tuân theo kế hoạch điều trị theo khuyến cáo. Điều quan trọng là tránh tiếp xúc với các bệnh nhiễm trùng khác và duy trì lối sống lành mạnh để hỗ trợ hệ thống miễn dịch.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Biến chứng của HIV

 

Hà Linh - Viện Y học ứng dụng Việt Nam (Tổng hợp từ Medical News Today) -
Bình luận
Tin mới
  • 08/12/2022

    Các cầu thủ thi đấu World Cup bổ sung gì vào chế độ dinh dưỡng?

    Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì thể lực, tăng sức bền và khả năng chịu đựng cho các cầu thủ bóng đá. Cùng tìm hiểu các cầu thủ tham dự FIFA World Cup bổ sung gì vào chế độ ăn uống của họ để tối ưu sức khỏe cho việc thi đấu nhé!

  • 08/12/2022

    Giúp mẹ thoát khỏi nỗi khổ tắc tia sữa

    Tắc tia sữa (tắc tuyến sữa) bản chất là tình trạng ứ đọng sau khi sữa được sản xuất ra nhưng không được giải thoát ra ngoài tại vú của mẹ nuôi con. Nếu tình trạng này không được giải quyết sẽ dẫn đến viêm, áp xe vú làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của mẹ và sự phát triển của bé.

  • 08/12/2022

    Chế độ ăn uống có làm tăng nguy cơ dậy thì sớm?

    Tỷ lệ trẻ em đang dậy thì đã tăng lên đáng kể từ năm 1997 đến năm 2010. Trước thế kỷ 20, độ tuổi dậy thì trung bình ở trẻ em gái là 16 hoặc 17. Độ tuổi dậy thì đã giảm liên tục trong 100 năm qua. Ngày nay, khoảng 16% trẻ em gái dậy thì vào khi mới chỉ 7 tuổi và khoảng 30% dậy thì khi bước sang tuổi thứ 8.

  • 08/12/2022

    5 mẹo vệ sinh tủ lạnh siêu sạch chuẩn bị đón Tết

    Cuối năm, ai cũng muốn dọn dẹp mọi thứ thật sạch sẽ, tinh tươm để đón một năm mới thật hào hứng, phấn khởi. Tủ lạnh luôn là nơi khiến bạn cảm thấy căng thẳng nhất vì lưu trữ quá nhiều đồ, trong khi lại phải sử dụng liên tục.

  • 08/12/2022

    Hãy thêm món rau yêu thích của 'thủy thủ Popeye' vào bữa ăn để nhận những lợi ích bất ngờ

    Trong số tất cả các loại rau lá xanh, rau bina (rau chân vịt, cải bó xôi) là một trong những loại rau linh hoạt nhất. Bạn có thể thêm nó vào sinh tố, thưởng thức nó trong món salad ướp lạnh, hấp và áp chảo như một món ăn phụ, thêm nó vào món xào và thậm chí trộn nó vào các món nướng.

  • 08/12/2022

    Cách sử dụng trà xanh hiệu quả trong chế độ giảm cân

    Trà xanh được biết đến với nhiều lợi ích sức khỏe vượt trội đã được khoa học chứng minh. Hiện nay, nhiều người tìm đến trà xanh với hy vọng giảm cân. Liệu trà xanh có thực sự giúp giảm cân hay không và cách uống trà thế nào đạt hiệu quả tốt nhất?

  • 08/12/2022

    Tác dụng phụ khi bổ sung quá nhiều acid folic

    Acid folic là dạng tổng hợp của vitamin B9 và nó chỉ được tìm thấy trong các chất bổ sung vitamin và một số thực phẩm bổ sung. Vitamin B9 có trong thực phẩm được gọi là folate. Một số thực phẩm giàu folate bao gồm: đậu, cam, măng tây, cải Brussels, bơ, rau lá xanh…

  • 07/12/2022

    5 loại thảo mộc tăng cường sức khỏe nên trồng trong nhà bếp

    Các loại thảo mộc khô từ giá đựng gia vị của bạn rất đẹp nhưng bạn thử nghĩ xem sẽ thú vị thêm biết bao nếu được hái chúng tươi ngay từ bậu cửa sổ bếp đầy nắng để sử dụng.

Xem thêm