Lo lắng khi mang thai
Bạn có thể đã nghe nói rằng trầm cảm sau sinh là một mối quan tâm lớn cho phụ nữ sau khi sinh. Nhưng có nhiều vấn đề tâm lý khác có thể ảnh hưởng đến thai kỳ của bạn. Hơn 1 trong 10 phụ nữ mang thai cảm thấy lo lắng tại một số thời điểm nào đó trong thai kỳ.
Nguyên nhân gây lo âu trong thai kỳ
Một số phụ nữ bị lo lắng trong khi mang thai, và cảm giác lo lắng có thể trở nên tồi tệ hơn trong những tuần cuối của thai kỳ. Xét cho cùng, không phải tất cả mọi thứ khiến bạn cảm thấy lo lắng đều nằm trong tầm kiểm soát của bạn. Thay đổi nội tiết trong khi mang thai có thể ảnh hưởng đến các chất hóa học trong não của bạn. Điều này có thể gây lo âu.
Mang thai cũng là thời điểm có nhiều thay đổi to lớn. Một số cảm giác được đón nhận một cách bình thường, trong khi những cảm giác khác thì hết sức khó chịu và đáng sợ. Bạn thậm chí có thể có biến chứng hoặc các vấn đề khác phát sinh khiến bạn thức giấc vào ban đêm.
Các triệu chứng lo lắng khi mang thai
Một số mức độ lo lắng là tự nhiên trong khi mang thai. Bạn có thể sẽ lo lắng bởi đã từng gặp phải các biến cố trong thai kỳ, ví dụ như đã từng sảy thai. Nhưng nếu những lo lắng này bắt đầu gây cản trở cuộc sống hàng ngày của bạn, đó có thể là vấn đề.
Các triệu chứng bao gồm:

Yếu tố nguy cơ của tình trạng lo lắng trong thai kỳ
Mặc dù bất kỳ ai cũng có thể bị lo âu trong khi mang thai, nhưng có một số yếu tố khiến bạn có nguy cơ bị lo lắng cao hơn, bao gồm:
Điều trị lo lắng khi mang thai
Các trường hợp lo âu nhẹ thường không cần điều trị đặc biệt, mặc dù bạn nên đề cập đến cảm xúc của mình với bác sĩ.
Trong những trường hợp nặng, bác sĩ có thể cho bạn dùng thuốc sau khi cân nhắc các lợi ích và rủi ro.
Lo lắng và em bé của bạn
Bạn bè thường khuyên bạn đừng quá lo lắng vì điều này không tốt cho em bé trong bụng của bạn. Nghiên cứu cho thấy rằng có lý do chính đáng để kiểm soát sự lo lắng của bạn.
Mức độ lo lắng cao trong thai kỳ có liên quan đến nguy cơ phát triển các tình trạng như tiền sản giật, sinh non và cân nặng khi sinh thấp.
Đón đọc phần tiếp theo tại vienyhocungdung.vn
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Mối liên hệ giữa lo lắng và trào ngược dạ dày
CTV Võ Dung
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.
Cà phê chứa caffeine, có thể ảnh hưởng đến cách cơ thể hấp thụ và chuyển hóa một số loại thuốc. Nếu bạn đang dùng thuốc theo toa, bác sĩ có thể khuyên bạn nên tránh cà phê và các loại đồ uống chứa caffeine, hoặc nên uống cà phê cách xa giờ uống thuốc.
Củ dền rất giàu nitrat, giúp làm giãn mạch máu và hỗ trợ huyết áp khỏe mạnh nhưng có một số loại thực phẩm khác mang lại nhiều lợi ích không kém.
Mùa nồm, hay hiện tượng ngưng tụ hơi nước do độ ẩm không khí vượt ngưỡng bão hòa (thường trên 90%), tạo điều kiện lý tưởng cho các loài vi nấm như Aspergillus hoặc Cladosporium phát triển mạnh mẽ trên bề mặt tường.
Cá khoai là một loại cá nước mặn được đánh giá cao vì có hàm lượng protein cao và ít chất béo. Nó cũng chứa nhiều khoáng chất thiết yếu hỗ trợ các chức năng hàng ngày của cơ thể. Dưới đây là 8 lợi ích của cá khoai trong chế độ ăn uống.
Có một số người không thích ăn rau và trái cây. Mặc dù sức khỏe có thể vẫn bình thường nhưng về lâu dài thói quen ăn uống này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính.