Theo những điều tra dịch bệnh hằng năm của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương thì các ca bệnh viêm màng não do não mô cầu và do Hib thường có dấu hiệu tăng lên vào mùa xuân.
Đối tượng mắc chủ yếu là trẻ em. Có những trường hợp đến nhập viện đã rất nguy kịch do gia đình thấy những biểu hiện thông thường như cảm cúm nên chủ quan không đưa trẻ đi khám và điều trị kịp thời.
Viêm màng não mô cầu (VMNMC) xuất hiện ở tất cả các vùng miền ở nước ta, chủ yếu là miền Bắc, nhất là vào mùa đông xuân và cuối thu đầu đông, do thời tiết lạnh ẩm, đi cùng với mùa của những bệnh truyền nhiễm khác do vi khuẩn và virut.
Ở miền Nam, bệnh ít gặp hơn, số mắc bệnh thường tăng lên vào khoảng tháng 5 tới tháng 7. Bệnh thường gặp ở trẻ em và những người trẻ tuổi sống tập trung ở ký túc xá, trường học hay những khu đông dân cư có đời sống kém vệ sinh.
Bệnh có tỉ lệ tử vong khá cao nếu không được phát hiện sớm và điều trị đúng. Bệnh lây theo đường hô hấp, trong khả năng ít hơn có thể lây nhiễm qua tiếp xúc với bàn tay, vật dụng cá nhân bị nhiễm vi khuẩn từ bệnh phẩm của bệnh nhân.
Sau khi khỏi bệnh, người bệnh có miễn dịch với vi khuẩn màng não cầu đồng týp huyết thanh, tuy nhiên thời gian miễn dịch không dài, có thể 2 - 3 năm, người đó vẫn có thể tái nhiễm hoặc nhiễm một týp vi khuẩn khác.
Sau khi xâm nhập vào tế bào đường hô hấp trên, gây ra tình trạng viêm mũi họng, người bệnh ho, sốt cao, đau cơ, đau đầu, buồn nôn, có thể bị co giật, giảm trương lực cơ, có biểu hiện của liệt chi, mặt, tri giác giảm... Từ đường hô hấp trên vi khuẩn tiếp tục xâm nhập vào máu qua hệ bạch huyết, vào khoang não tuỷ hoặc một số cơ quan khác như khớp, màng tim... gây viêm, đau ở các cơ quan này.
Tùy vị trí xâm nhập, độc lực của vi khuẩn cũng như sức đề kháng của cơ thể mà dẫn đến viêm mũi họng nhẹ tới nhiễm khuẩn huyết đơn thuần hoặc kịch phát gây tử vong. Tỷ lệ tử vong của VMNMC từ 5 - 10% số mắc, để lại nhiều di chứng nặng nề về thần kinh, thẩm mỹ.
Đối với bệnh viêm màng não mủ (Hib) thường gặp ở trẻ từ 2 - 5 tuổi. Bệnh thường xảy ra ở thể bán cấp hoặc có thể đột ngột với các triệu chứng chủ yếu như sốt trên 38oC, nôn, ngủ lịm, thóp phồng ở trẻ nhỏ hoặc cứng gáy ở trẻ lớn hơn, trẻ có thể bị kích thích vật vã, co giật từng cơn. Tỷ lệ tử vong của Hib là từ 3 - 8% ở các nước phát triển, còn ở những nước nghèo có thể lên tới 40%.
Hib lây qua đường hô hấp, vi khuẩn xâm nhập qua mũi họng. Nguồn lây bệnh chính là người bệnh và người lành mang bệnh, tỷ lệ người lành mang vi khuẩn là 80% ở trẻ em và 20% ở người lớn. Hib có thể xuất hiện quanh năm song tỷ lệ mắc cao nhất vào mùa đông xuân, đặc biệt là thời tiết ẩm ướt.
Phát hiện sớm sẽ cho kết quả điều trị tốt
Hai căn bệnh này đều đáp ứng tốt điều trị bằng kháng sinh mạnh, tuy nhiên nếu phát hiện bệnh quá muộn thì tỷ lệ tử vong sẽ cao hoặc để lại nhiều di chứng về phát triển thần kinh như bị liệt toàn thân, bại não, méo tiếng, chân tay khoèo, có những trẻ vẫn phát triển trí tuệ được nhưng do hình dạng bất thường nên sẽ chịu nhiều thiệt thòi khi lớn lên và hạn chế sự hoà nhập cộng đồng.
Những hy vọng từ vắc-xin: Các biện pháp phòng bệnh quan trọng vẫn là giữ vệ sinh thân thể và mũi họng sạch sẽ, giữ vệ sinh môi trường thường xuyên thông thoáng, nhiều ánh sáng, cần duy trì vệ sinh răng miệng, hầu, họng. Khi bị viêm đường hô hấp trên có biểu hiện bệnh cần đưa bệnh nhân đến ngay các cơ sở y tế.
Hiện nay đã có vắc-xin phòng VMNMC týp A và C, nhưng thời gian bảo vệ thấp ( 2 - 3 năm) và giá thành cao nên các chuyên gia dịch tễ chỉ khuyến cáo dùng cho những người đang sống trong vùng đang có nguy cơ dịch bệnh.
Còn đối với vắc-xin phòng Hib đã có mặt ở nước ta nhiều năm qua, song cả hai vắc-xin phòng bệnh này đều chưa được miễn phí trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng, và giá thành còn cao so với thu nhập của nhiều gia đình (khoảng 500.000đ cho 2 mũi vắc-xin Hib), vắc-xin này chỉ định cho trẻ từ 2 tháng tuổi và mũi 2 cách mũi 1 là 2 tháng.
Việt Nam cũng chưa tự sản xuất được vắc-xin này, do đó cơ hội được tiếp cận là rất ít với những gia đình nghèo. Tin vui cho những trẻ em là dự kiến đến tháng 7/2009, sẽ có vắc-xin 5 trong 1 dùng miễn phí trong Tiêm chủng mở rộng, vắc-xin Hib là một trong số đó.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!