Mang thai có bị rụng tóc không? Không có câu trả lời cụ thể bởi thực tế, cả nam và nữ đều mất trung bình khoảng 50 đến 100 sợi tóc mỗi ngày. Khi mang thai, nồng độ estrogen trong cơ thể tăng sẽ làm chậm chu kỳ rụng tóc tự nhiên. Kết quả là một số phụ nữ cảm thấy tóc trở nên chắc khỏe hơn nhưng không phải ai cũng vậy. Cũng có trường hợp rụng tóc khi mang thai khiến nhiều mẹ bầu băn khoăn.

Thay đổi nội tiết khiến bạn bị rụng tóc khi mang thai
Ngay cả những người bình thường, nếu trong một thời gian dài luôn phải sống trong cảm giác căng thẳng, mệt mỏi sẽ khiến tóc rụng nhiều hơn. Phụ nữ có thai là đối tượng dễ mắc phải tình trạng này. Nguyên nhân rụng tóc khi mang thai là do khi mang bầu, nhất là trong 3 tháng thai kỳ đầu tiên, bạn sẽ thường xuyên cảm thấy căng thẳng do nội tiết tố bên trong cơ thể thay đổi để hỗ trợ thai nhi phát triển. Sự thay đổi này tác động đến tóc. Nếu trước đây một ngày bạn rụng khoảng 100 sợi tóc thì giai đoạn này có thể lên đến con số 300 sợi. Tuy nhiên, bạn không cần quá lo lắng vì rụng tóc do thay đổi nội tiết khi mang thai thường không kéo dài trên 6 tháng và cũng không gây rụng tóc vĩnh viễn. Tình trạng này sẽ được cải thiện ở những tháng cuối thai kỳ hoặc sau khi sinh xong.
Có phải rụng tóc sau sinh là hiện tượng bình thường?
Tóc rụng nhiều hơn bình thường trong vài tháng đầu sau sinh là điều hoàn toàn bình thường. Các bác sĩ gọi nó là rụng tóc sau sinh. Thông thường, từ 85 đến 95 phần trăm tóc trên đầu của bạn đang phát triển tích cực, trong khi 5 đến 15 phần trăm còn lại đang trong giai đoạn nghỉ ngơi. Sau thời gian nghỉ ngơi, phần tóc này rụng đi, thường là khi bạn đang chải hoặc gội đầu và được thay thế bằng phần tóc mới mọc. Phụ nữ trung bình rụng khoảng 100 sợi tóc mỗi ngày. Khi mang thai, nồng độ estrogen tăng cao sẽ kéo dài giai đoạn phát triển. Có ít tóc trong giai đoạn nghỉ ngơi hơn và tóc ít rụng hơn mỗi ngày, vì vậy bạn có thể có mái tóc dày và nhiều tóc hơn trước. Tuy nhiên, sau khi bạn sinh con, nồng độ estrogen của bạn giảm mạnh và rất nhiều nang tóc bước vào giai đoạn nghỉ ngơi và bắt đầu rụng từ ba đến năm tháng sau đó. Vì vậy, trong vòng 5 tháng sau sinh, có khả năng bạn sẽ có nhiều tóc rụng hơn khi tắm hoặc khi chải đầu. Không phải tất cả phụ nữ đều nhận thấy những thay đổi đáng kể trên mái tóc của họ trong thời kỳ sau sinh. Rụng tóc có xu hướng rõ ràng hơn ở những phụ nữ có mái tóc dài. Nên trao đổi với bác sĩ về tình trạng rụng tóc của mình nếu bạn thấy tóc rụng quá nhiều. Rụng tóc có thể là triệu chứng của bệnh thiếu máu hoặc viêm tuyến giáp sau sinh, đây là những bệnh lý có thể điều trị được. Rụng tóc sau sinh có thể xảy ra vào bất kỳ ngày nào sau khi bạn sinh con và đôi khi nó tiếp tục kéo dài cả năm. Tuy nhiên, rụng tóc thường đạt đỉnh điểm vào khoảng 4 tháng sau sinh, vì vậy bạn không cần phải hoảng sợ nếu con bạn được vài tháng tuổi và bạn vẫn rụng từng mảng tóc.
Có thể làm gì để ngăn chặn chứng rụng tóc sau sinh?
Bạn sẽ không thể ngăn tóc rụng, nhưng bạn có thể cố gắng tận dụng tối đa những gì bạn có để làm thuyên giảm tình trạng rụng tóc sau sinh. Dưới đây là những gì các bác sĩ da liễu khuyên bạn nên làm:
Nếu cảm thấy mệt mỏi với việc phải gội tóc dài dưới vòi hoa sen hoặc quét các sợi tóc khỏi sàn phòng tắm, bạn có thể chọn cắt ngắn tóc. Thêm vào đó, kiểu tóc ngắn gội đầu có thể dễ gội và búi tóc hơn khi bạn phải chăm sóc em bé. Lưu ý: Nếu bạn có mái tóc dài, các sợi tóc có thể quấn chặt lấy cơ thể nhỏ bé của bé, bao gồm ngón tay, ngón chân, cổ tay, mắt cá chân và dương vật của bé. Đây được gọi là garô tóc và nó có thể gây đau đớn cho con bạn. Nếu trẻ khóc mà không có lý do rõ ràng, hãy kiểm tra cẩn thận xem có sợi tóc dài có quấn chặt lấy bộ phận nào của bé không. Bên cạnh các cách được kể trên, bạn có thể thử thêm các cách dưới đây:
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Tìm hiểu rụng tóc khi thời kỳ mang thai và cách khắc phục
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.