Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Làm mẹ quá sớm dễ sinh con chậm phát triển, suy dinh dưỡng

Tình trạng tảo hôn ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi vẫn là vấn đề nan giải, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe bà mẹ, trẻ em cũng như chất lượng dân số.

Không nên sinh con trước tuổi 20

Thời điểm mang thai tốt nhất là khi phụ nữ đã chuẩn bị đầy đủ về mặt kiến thức, thể chất, khả năng sinh sản, tinh thần, tài chính và trách nhiệm làm mẹ. 20 - 35 là độ tuổi vàng để làm mẹ, không nên sinh con trước tuổi 20 và sau tuổi 35.

Tình trạng sinh con quá sớm ở các vùng dân tộc thiểu số miền núi nước ta vẫn còn phổ biến, Ví dụ tại Lào Cai, thực tế cho thấy, nhiều trẻ được sinh ra từ những người mẹ đang là học sinh THPT, đa số tại các xã vùng cao. Theo thống kê chuyên ngành dân số và phát triển, số trẻ do phụ nữ dưới 20 tuổi sinh ra năm 2021 là 1.956 trẻ/11.070 trẻ được sinh ra trong toàn tỉnh, chiếm 17,67% (dân tộc Mông chiếm 60,22%; dân tộc Dao chiếm 17,12%; dân tộc Tày chiếm 8,23%; các dân tộc khác chiếm 14,43%); số trẻ do phụ nữ dưới 18 tuổi sinh ra là 812 trẻ, chiếm 7,35%.

Các huyện có tỷ lệ trẻ do phụ nữ dưới 20 tuổi sinh ra cao gồm Bắc Hà (25,29%), Si Ma Cai (25,07%) và Bát Xát (21,57%). Trong 4 tháng đầu năm 2022, số trẻ do phụ nữ dưới 20 tuổi sinh ra là 547 trẻ/3.024 trẻ được sinh ra, chiếm 18,09%, có nghĩa là cứ 100 trẻ sinh ra thì có hơn 18 trẻ sinh ra từ các bà mẹ dưới 20 tuổi.

Làm mẹ quá sớm dễ sinh con chậm phát triển, suy dinh dưỡng - Ảnh 2.

20 - 35 là độ tuổi vàng để làm mẹ, không nên sinh con trước tuổi 20 và sau tuổi 35.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là công tác truyền thông, cung cấp thông tin, kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) cho vị thành niên chưa liên tục, kịp thời, dẫn đến khả năng tiếp cận các nguồn thông tin chính thống về SKSS và tình dục rất hạn chế. Các dịch vụ chăm sóc SKSS, bao gồm cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) cho vị thành niên chưa được phổ biến rộng rãi.

Nhiều chương trình chăm sóc và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên mặc dù được triển khai rộng rãi nhưng phần lớn chỉ tập trung vào những đối tượng là cặp vợ chồng, chưa chú ý đến đối tượng vị thành niên. Ngoài ra còn có các yếu tố khác như những lớp học, mô hình, câu lạc bộ tổ chức tuyên truyền về sức khỏe sinh sản chưa được thường xuyên, liên tục, trong khi trên các trang mạng xã hội hiện nay, những hình ảnh, nội dung liên quan đến vấn đề tình dục quá nhiều, chưa kiểm soát; việc xử lý các trường hợp tảo hôn, ép hôn tại một số địa phương chưa triệt để, chưa đủ sức răn đe; việc bảo vệ quyền cho trẻ em gái vị thành niên chưa được thực hiện tốt.

Việc làm mẹ quá sớm sẽ để lại nhiều hậu quả khôn lường. Theo các bác sỹ sản khoa, do cơ thể các em gái chưa hoàn thiện nên khi sinh con ở tuổi vị thành niên sẽ ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe của chính bản thân người mẹ và con trẻ. Người mẹ không chỉ bị ảnh hưởng đến sức khỏe, mà còn ảnh hưởng đến tâm lý. Trong khi đó, nếu đi đến hôn nhân thì nhiều em chưa đủ tuổi, vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, hoặc sinh con sớm thì bản thân các em gái mất đi cơ hội học hành, thiếu kiến thức chăm con.

Đối với trẻ do phụ nữ tuổi vị thành niên sinh ra thường chậm phát triển về thể chất và trí tuệ, bị suy dinh dưỡng do người mẹ thiếu kiến thức chăm sóc bản thân và nuôi con, điều kiện kinh tế hạn chế. Bên cạnh đó, nhiều trẻ được sinh ra nhưng bố mẹ chưa đủ tuổi kết hôn nên không làm giấy khai sinh cho con, ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ, trong đó có chăm sóc y tế.

Trẻ có nguy cơ chậm phát triển, suy dinh dưỡng

Việc phụ nữ tuổi vị thành niên sinh con để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội. Những người mẹ ở tuổi vị thành niên hầu hết chưa có việc làm, cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí còn phụ thuộc vào gia đình dẫn đến nhiều trường hợp ly hôn khi về ở với nhau trong thời gian ngắn. Do tuổi đời còn trẻ, thời gian sinh sản dài dẫn đến sinh nhiều con, ảnh hưởng đến chất lượng dân số và là nguyên nhân gây ra đói nghèo. Trẻ được sinh ra có nguy cơ chậm phát triển, suy dinh dưỡng nên hay ốm đau, thậm chí bệnh tật khiến chi phí cho khám, chữa bệnh nhiều hơn.

Làm mẹ quá sớm dễ sinh con chậm phát triển, suy dinh dưỡng - Ảnh 3.

Tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong của trẻ sơ sinh ở người mẹ nhỏ tuổi cao hơn nhiều so với các bà mẹ ở tuổi trưởng thành.

BS Dương Kim Ngân, Trưởng khoa Chăm sóc sức khoẻ sinh sản- Bệnh viện Sản - Nhi Cà Mau, cho biết: Trẻ vị thành niên (VTN) hay còn gọi là tuổi dậy thì, ở tuổi này trẻ có những biến đổi sâu sắc về tâm lý. Các em thường muốn khám phá , tò mò về giới tính và của người khác. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng mang thai và sinh con ở tuổi VTN. Đáng quan tâm là tình trạng tảo hôn và quan hệ tình dục trước hôn nhân; các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tình dục còn chưa được phổ biến rộng rãi; giới trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính; tình trạng xâm hại tình dục trẻ em vẫn đâu đó vẫn còn diễn ra...

Những bạn gái mang thai và sinh con ở tuổi VTN đem theo gánh nặng rất lớn về chi phí kinh tế và xã hội thông qua các tác động trước mắt và lâu dài đến cha mẹ và con cái của họ. Thiếu sự chăm sóc trước sinh, trẻ VTN khi mang thai thường thiếu sự giúp đỡ từ gia đình, không được chăm sóc trước sinh đầy đủ, trẻ có nguy cơ bất thường cao, nguy cơ sanh non, nguy cơ trẻ nhẹ cân, suy dinh dưỡng...  Đặc biệt là người mẹ dễ bị trầm cảm khi mang thai và sau sinh. Đây là nguyên nhân dẫn đến những hành động đáng tiếc xảy ra như tự tử, bỏ con sau sinh...

Khi mang thai ở tuổi vị thành niên dễ dẫn đến các biến chứng do thai nghén như: Dễ bị sảy thai, đẻ non, nhiễm độc thai nghén, làm tăng nguy cơ tử vong mẹ. Tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong của trẻ sơ sinh ở người mẹ nhỏ tuổi cao hơn nhiều so với các bà mẹ ở tuổi trưởng thành. Dễ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó có cả HIV/AIDS. Làm mẹ sớm dễ bị căng thẳng, khủng hoảng tâm lý, tổn thương tình cảm và thiếu điều kiện tốt trong cuộc sống.

Để giải quyết vấn đề này, trước hết cần tăng cường truyền thông, cung cấp thông tin về kiến thức, kỹ năng chăm sóc SKSS cho người ở tuổi vị thành niên; nêu cao vai trò của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, doanh nghiệp, những người có uy tín trong cộng đồng và những người có ảnh hưởng trong xã hội. Đồng thời, đưa các quy định phòng, chống tảo hôn vào hương ước, quy ước của cộng đồng; kịp thời nắm các trường hợp có biểu hiện tảo hôn để ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình.

Cần có chính sách hỗ trợ truyền thông về chăm sóc SKSS, tình dục cho người ở tuổi vị thành niên; tăng cường hoạt động của câu lạc bộ giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại các huyện, xã có tỷ lệ trẻ do phụ nữ dưới 20 tuổi sinh ra cao; có chính sách khuyến khích, động viên những cộng đồng làm tốt công tác phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Khuyến khích các sáng kiến trong xây dựng và thực hiện các mô hình cung cấp dịch vụ thân thiện cho người ở tuổi vị thành niên, bảo đảm có thể tiếp cận các mô hình tại nhà trường, cộng đồng.

Gia đình và nhà trường cần phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm trong việc giáo dục về sức khỏe sinh sản cho trẻ ở tuổi vị thành niên; tạo động lực và hứng thú để các em phấn đấu trong học tập, góp phần giảm thiểu tình trạng lấy vợ, lấy chồng, sinh con sớm ở tuổi vị thành niên…

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những thực phẩm nào có thể hỗ trợ ngăn ngừa ung thư vú?

Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Bình luận
Tin mới
  • 17/10/2026

    Những lợi ích tuyệt vời của việc duy trì quan hệ tình dục đều đặn

    Tình dục không đơn thuần là hành vi mang tính bản năng hay phục vụ mục đích duy trì nòi giống, mà còn đóng vai trò cốt lõi trong việc chăm sóc sức khỏe toàn diện cho con người. Việc duy trì hoạt động tình dục đều đặn, lành mạnh mang lại hàng loạt tác động tích cực về cả thể chất lẫn tinh thần. Nhằm giúp bạn đọc có cái nhìn khoa học và đúng đắn hơn về chủ đề này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin và phân tích chi tiết trong bài viết dưới đây.

  • 17/10/2026

    Nhận diện các loại côn trùng thường gặp và cách xử trí

    Ve, muỗi, kiến lửa, bọ chét hay nhện độc... là những "vị khách không mời" quen thuộc trong sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt vào mùa mưa ẩm.

  • 16/10/2026

    Xét nghiệm máu: Phương pháp mới giúp đánh giá sớm nguy cơ ung thư

    Một nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS Medicine cho thấy việc theo dõi sự thay đổi của các chỉ số xét nghiệm máu theo thời gian có thể giúp nhận diện nguy cơ ung thư sớm hơn so với việc chỉ đánh giá kết quả của một lần xét nghiệm.

  • 16/10/2026

    7 yếu tố nguy cơ đột quỵ và cách phòng ngừa hiệu quả

    Đột quỵ là biến cố cấp tính nguy hiểm xảy ra khi dòng máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị gián đoạn, khiến tế bào não bị hoại tử nhanh chóng. Nếu không được cấp cứu trong "thời gian vàng", bệnh có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề như liệt, rối loạn ngôn ngữ. Hiện nay, căn bệnh này đang có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là ở nam giới. Nhằm giúp cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cốt lõi giúp nhận diện nguyên nhân và phòng ngừa đột quỵ hiệu quả.

  • 15/10/2026

    Ngũ cốc nguyên hạt và sức khỏe tim mạch: Nên ăn bao nhiêu mỗi ngày?

    Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.

  • 15/10/2026

    6 loại thực phẩm chức năng phổ biến gây hại cho gan

    Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.

  • 14/10/2026

    5 loại thực phẩm bổ sung có thể cải thiện hiệu suất tập luyện

    Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.

  • 14/10/2026

    U dây thần kinh thính giác

    U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!

Xem thêm