Khuyến cáo mới sử dụng vắc-xin HPV ngừa ung thư cổ tử cung
Vắc-xin HPV đã được khuyến cáo sử dụng từ năm 2006
Kể từ khi được cấp phép sử dụng lần đầu tiên năm 2006, đến nay vắc-xin HPV đã có nhiều bước phát triển. Đầu tiên, các loại vắc-xin HPV tứ giá (gardasil phòng ngừa HPV týp 6, 11, 16, 18) và vắc-xin HPV nhị giá (cervarix phòng ngừa HPV týp 16, 18) từ khi ra đời cho đến nay đã lần lượt được mở rộng phạm vi sử dụng. Không chỉ giúp bảo vệ cho phụ nữ khỏi ung thư cổ tử cung mà còn giúp bảo vệ các bệnh lý khác do HPV gây ra (ung thư âm hộ, âm đạo, hậu môn, hầu họng…). Đối tượng tiêm phòng cũng được mở rộng sang cả nam giới.
Một bước phát triển lớn nữa, đó là vắc-xin HPV giúp phòng ngừa 9 týp HPV (cửu giá) có tên là gardasil 9 đã được Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê chuẩn lưu hành vào tháng 12/2014 để phòng ngừa các týp HPV 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52, 58. Cả ba loại vắc-xin đều được cấp phép sử dụng tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đến cuối năm 2016 chỉ còn gardasil 9 là đang được phân phối tại đây.
Theo khuyến cáo, ba loại vắc-xin được sử dụng theo liệu trình 3 liều vào các thời điểm 0, 1 hoặc 2 tháng và 6 tháng sau liều đầu. Đến tháng 10/2016, sau khi có kết quả nghiên cứu từ một thử nghiệm lâm sàng lớn, đa trung tâm, FDA đã cấp phép cho gardasil 9 được sử dụng theo liệu trình 2 liều ở các bé gái và cả bé trai trong độ tuổi từ 9-14. Những bước phát triển mới này đưa đến nhiều thay đổi trong các khuyến cáo hiện hành.

Vắc-xin HPV được khuyến cáo sử dụng từ năm 2006.
Khuyến cáo khi tiêm HPV
Ủy ban Cố vấn về thực hành tiêm chủng (ACIP) của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo khi sử dụng vắc-xin HPV như sau:
Độ tuổi tiêm ngừa: ACIP khuyến cáo tiêm ngừa thường quy cho trẻ em cả hai giới ở tuổi 11 hay 12, có thể bắt đầu tiêm ngừa khi trẻ lên 9 tuổi.
Nữ giới có thể kéo dài thời gian tiêm ngừa đến hết 26 tuổi và với nam giới là hết 21 tuổi nếu chưa được tiêm ngừa đầy đủ trước đó. Nam giới tuổi từ 22-26 vẫn có thể tiêm ngừa (tùy trường hợp).
Liệu trình phù hợp: Những trường hợp bắt đầu tiêm ngừa trước khi đủ 15 tuổi, ACIP khuyến cáo tiêm 2 liều. Với liều thứ hai cách liều đầu tiên từ 6-12 tháng (liệu trình 0, 6-12).
Những trường hợp bắt đầu tiêm ngừa sau 15 tuổi, ACIP khuyến cáo tiêm 3 liều. Với liệu trình 0, 1-2 và 6 tháng như các khuyến cáo trước đây.
Tiêu chuẩn tiêm ngừa đầy đủ: Những trường hợp bắt đầu tiêm ngừa trước khi đủ 15 tuổi với vắc-xin HPV cửu giá, tứ giá hoặc nhị giá và đã tiêm 2 liều (theo liệu trình 0, 6-12) hoặc đã tiêm 3 liều (theo liệu trình 0, 1-2, 6) của bất kỳ loại vắc-xin HPV nào đều được coi là đã tiêm ngừa đầy đủ.
Những trường hợp bắt đầu tiêm ngừa sau 15 tuổi với vắc-xin HPV cửu giá, tứ giá hoặc nhị giá và đã tiêm 3 liều (theo liệu trình 0, 1-2,6) của bất kỳ loại vắc-xin HPV nào đều được coi là đã tiêm ngừa đầy đủ.
Vắc-xin HPV cửu giá có thể sử dụng thay thế các loại vắc-xin tứ giá và nhị giá để tiếp tục và hoàn thành đầy đủ liệu trình tiêm ngừa.
Các trường hợp đã tiêm ngừa đầy đủ bằng vắc-xin HPV tứ giá hoặc nhị giá không có khuyến cáo tiêm ngừa bổ sung vắc-xin HPV cửu giá.
Trường hợp liệu trình bị gián đoạn: Không cần khởi động lại từ đầu khi liệu trình bị gián đoạn. Số liều phải tiêm còn lại dựa vào liệu trình khuyến cáo theo độ tuổi lúc bắt đầu tiêm ngừa.
Đối với các nhóm dân số đặc biệt: Trẻ em có tiền sử bị lạm dụng hoặc bạo hành tình dục: khuyến cáo bắt đầu tiêm ngừa vắc-xin HPV thường quy từ lúc lên 9 tuổi.
Nam giới có quan hệ đồng giới: Khuyến cáo tiêm ngừa vắc-xin HPV thường quy như với nam giới nói chung và có thể kéo dài đến hết tuổi 26 nếu chưa được tiêm ngừa đầy đủ trước đó.
Đối tượng chuyển giới: Khuyến cáo tiêm ngừa thường quy và có thể đến hết tuổi 26 nếu chưa được tiêm ngừa đầy đủ trước đó.
Đối với điều kiện y khoa đặc biệt: ACIP khuyến cáo tiêm ngừa đủ 3 liều vắc-xin HPV (theo liệu trình 0, 1-2, 6) cho tất cả phụ nữ và nam giới trong độ tuổi từ 9 - 26 có tình trạng suy giảm miễn dịch nguyên phát hoặc mắc phải với đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào hay miễn dịch dịch thể kém như trong trường hợp thiếu kháng thể tế bào lympho B, khiếm khuyết một phần hay toàn phần tế bào lympho T, nhiễm HIV, có khối u tân sinh ác tính, ghép tạng, mắc bệnh tự miễn hay đang điều trị phác đồ ức chế miễn dịch.
Chống chỉ định và thận trọng: Không có thay đổi về chống chỉ định và những trường hợp cần thận trọng, bao gồm liên quan đến thai kỳ trong khuyến cáo lần này so với trước đây.
Tất cả những trường hợp xảy ra tác dụng phụ sau khi tiêm ngừa đều nên được báo cáo đầy đủ.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những hiểu lầm và sự thật về vacxin HPV
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.
Khi nhắc đến ung thư vú, đa số phụ nữ thường nghĩ ngay đến khối u bất thường.
Dưa chuột được xem là thực phẩm có lợi cho người mỡ máu cao nhờ thành phần giàu nước và chất xơ. Tuy nhiên, để hỗ trợ kiểm soát mỡ máu hiệu quả, việc sử dụng dưa chuột đúng cách và hợp lý là điều không phải ai cũng nắm rõ.
Đau lưng đã trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt phổ biến ở dân văn phòng do thói quen ngồi làm việc lâu, dễ dẫn đến thoát vị đĩa đệm. Khi cơn đau kéo dài trên 3 tháng, đó là dấu hiệu của đau lưng mãn tính. Để kiểm soát và cải thiện tình trạng này, điều quan trọng là phải hiểu rõ căn nguyên và áp dụng các giải pháp phù hợp như thay đổi thói quen và thực hiện các bài tập chuyên biệt. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích các nguyên nhân cốt gây ra chứng đau lưng mãn tính và các phương pháp khoa học giúp điều trị đau lưng hiệu quả.