Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Khuyến cáo mới sử dụng vắc-xin HPV ngừa ung thư cổ tử cung

HPV (human papilloma virus) là loại virut gây u nhú ở người rất dễ lây nhiễm qua quan hệ tình dục không an toàn; là nguyên nhân gây bệnh sùi mào gà; ung thư cổ tử cung (CTC)… Do đó, để dự phòng các bệnh do HPV gây ra, cách tốt nhất là tiêm vắc-xin phòng HPV.

Khuyến cáo mới sử dụng vắc-xin HPV ngừa ung thư cổ tử cung

 

Vắc-xin HPV đã được khuyến cáo sử dụng từ năm 2006

Kể từ khi được cấp phép sử dụng lần đầu tiên năm 2006, đến nay vắc-xin HPV đã có nhiều bước phát triển. Đầu tiên, các loại vắc-xin HPV tứ giá (gardasil phòng ngừa HPV týp 6, 11, 16, 18) và vắc-xin HPV nhị giá (cervarix phòng ngừa HPV týp 16, 18) từ khi ra đời cho đến nay đã lần lượt được mở rộng phạm vi sử dụng. Không chỉ giúp bảo vệ cho phụ nữ khỏi ung thư cổ tử cung mà còn giúp bảo vệ các bệnh lý khác do HPV gây ra (ung thư âm hộ, âm đạo, hậu môn, hầu họng…). Đối tượng tiêm phòng cũng được mở rộng sang cả nam giới.

Một bước phát triển lớn nữa, đó là vắc-xin HPV giúp phòng ngừa 9 týp HPV (cửu giá) có tên là gardasil 9 đã được Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê chuẩn lưu hành vào tháng 12/2014 để phòng ngừa các týp HPV 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52, 58. Cả ba loại vắc-xin đều được cấp phép sử dụng tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đến cuối năm 2016 chỉ còn gardasil 9 là đang được phân phối tại đây.

Theo khuyến cáo, ba loại vắc-xin được sử dụng theo liệu trình 3 liều vào các thời điểm 0, 1 hoặc 2 tháng và 6 tháng sau liều đầu. Đến tháng 10/2016, sau khi có kết quả nghiên cứu từ một thử nghiệm lâm sàng lớn, đa trung tâm, FDA đã cấp phép cho gardasil 9 được sử dụng theo liệu trình 2 liều ở các bé gái và cả bé trai trong độ tuổi từ 9-14. Những bước phát triển mới này đưa đến nhiều thay đổi trong các khuyến cáo hiện hành.

Vắc-xin HPV được khuyến cáo sử dụng từ năm 2006.

Vắc-xin HPV được khuyến cáo sử dụng từ năm 2006.

Khuyến cáo khi tiêm HPV

Ủy ban Cố vấn về thực hành tiêm chủng (ACIP) của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo khi sử dụng vắc-xin HPV như sau:

Độ tuổi tiêm ngừa: ACIP khuyến cáo tiêm ngừa thường quy cho trẻ em cả hai giới ở tuổi 11 hay 12, có thể bắt đầu tiêm ngừa khi trẻ lên 9 tuổi.

Nữ giới có thể kéo dài thời gian tiêm ngừa đến hết 26 tuổi và với nam giới là hết 21 tuổi nếu chưa được tiêm ngừa đầy đủ trước đó. Nam giới tuổi từ 22-26 vẫn có thể tiêm ngừa (tùy trường hợp).

Liệu trình phù hợp: Những trường hợp bắt đầu tiêm ngừa trước khi đủ 15 tuổi, ACIP khuyến cáo tiêm 2 liều. Với liều thứ hai cách liều đầu tiên từ 6-12 tháng (liệu trình 0, 6-12).

Những trường hợp bắt đầu tiêm ngừa sau 15 tuổi, ACIP khuyến cáo tiêm 3 liều. Với liệu trình 0, 1-2 và 6 tháng như các khuyến cáo trước đây.

Tiêu chuẩn tiêm ngừa đầy đủ: Những trường hợp bắt đầu tiêm ngừa trước khi đủ 15 tuổi với vắc-xin HPV cửu giá, tứ giá hoặc nhị giá và đã tiêm 2 liều (theo liệu trình 0, 6-12) hoặc đã tiêm 3 liều (theo liệu trình 0, 1-2, 6) của bất kỳ loại vắc-xin HPV nào đều được coi là đã tiêm ngừa đầy đủ.

Những trường hợp bắt đầu tiêm ngừa sau 15 tuổi với vắc-xin HPV cửu giá, tứ giá hoặc nhị giá và đã tiêm 3 liều (theo liệu trình 0, 1-2,6) của bất kỳ loại vắc-xin HPV nào đều được coi là đã tiêm ngừa đầy đủ.

Vắc-xin HPV cửu giá có thể sử dụng thay thế các loại vắc-xin tứ giá và nhị giá để tiếp tục và hoàn thành đầy đủ liệu trình tiêm ngừa.

Các trường hợp đã tiêm ngừa đầy đủ bằng vắc-xin HPV tứ giá hoặc nhị giá không có khuyến cáo tiêm ngừa bổ sung vắc-xin HPV cửu giá.

Trường hợp liệu trình bị gián đoạn: Không cần khởi động lại từ đầu khi liệu trình bị gián đoạn. Số liều phải tiêm còn lại dựa vào liệu trình khuyến cáo theo độ tuổi lúc bắt đầu tiêm ngừa.

Đối với các nhóm dân số đặc biệt: Trẻ em có tiền sử bị lạm dụng hoặc bạo hành tình dục: khuyến cáo bắt đầu tiêm ngừa vắc-xin HPV thường quy từ lúc lên 9 tuổi.

Nam giới có quan hệ đồng giới: Khuyến cáo tiêm ngừa vắc-xin HPV thường quy như với nam giới nói chung và có thể kéo dài đến hết tuổi 26 nếu chưa được tiêm ngừa đầy đủ trước đó.

Đối tượng chuyển giới: Khuyến cáo tiêm ngừa thường quy và có thể đến hết tuổi 26 nếu chưa được tiêm ngừa đầy đủ trước đó.

Đối với điều kiện y khoa đặc biệt: ACIP khuyến cáo tiêm ngừa đủ 3 liều vắc-xin HPV (theo liệu trình 0, 1-2, 6) cho tất cả phụ nữ và nam giới trong độ tuổi từ 9 - 26 có tình trạng suy giảm miễn dịch nguyên phát hoặc mắc phải với đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào hay miễn dịch dịch thể kém như trong trường hợp thiếu kháng thể tế bào lympho B, khiếm khuyết một phần hay toàn phần tế bào lympho T, nhiễm HIV, có khối u tân sinh ác tính, ghép tạng, mắc bệnh tự miễn hay đang điều trị phác đồ ức chế miễn dịch.

Chống chỉ định và thận trọng: Không có thay đổi về chống chỉ định và những trường hợp cần thận trọng, bao gồm liên quan đến thai kỳ trong khuyến cáo lần này so với trước đây.

Tất cả những trường hợp xảy ra tác dụng phụ sau khi tiêm ngừa đều nên được báo cáo đầy đủ.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những hiểu lầm và sự thật về vacxin HPV

BS. Bùi Quang Trung - Theo Sức khỏe & Đời sống/Gardasil
Bình luận
Tin mới
  • 27/02/2026

    6 lý do bạn nên ăn dâu tây mỗi ngày

    Không chỉ được mệnh danh là 'nữ hoàng' của các loại quả mọng nhờ hương vị ngọt ngào và vẻ ngoài rực rỡ, dâu tây còn chứa nhiều hợp chất đặc biệt có lợi cho sức khỏe. Dưới đây là 6 lý do chúng ta nên ăn dâu tây mỗi ngày.

  • 27/02/2026

    Phòng ngừa các bệnh đường hô hấp phổ biến khi thời tiết nồm ẩm

    Độ ẩm không khí tăng cao là "nỗi ám ảnh" đối với sức khỏe của nhiều gia đình tại miền Bắc. Đây là thời điểm mà nhiệt độ thay đổi thất thường, không khí trong nhà luôn trong tình trạng bí bách không chỉ gây bất tiện trong sinh hoạt mà còn là tác nhân hàng đầu khiến các ca bệnh đường hô hấp bùng phát mạnh mẽ. Trong bài viết này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ hướng dẫn nhận diện sớm các nguy cơ và cách chăm sóc sức khỏe cho cả gia đình.

  • 26/02/2026

    Tiềm năng hỗ trợ tăng cường hệ miễn dịch từ trà thảo mộc

    Hệ miễn dịch chỉ hoạt động hiệu quả khi duy trì được trạng thái cân bằng nội môi, tránh tình trạng viêm quá mức gây tổn thương mô. Các nghiên cứu hiện đại đã chứng minh rằng các hợp chất thực vật như Flavonoid, Catechin và Mogroside có trong các loại trà thảo mộc có khả năng can thiệp tích cực vào quá trình bảo vệ niêm mạc và điều hòa miễn dịch.

  • 26/02/2026

    Mặt nạ dưỡng da phù hợp cho mùa đông

    Cái lạnh thường khiến chúng ta ngại chạm tay vào những miếng mặt nạ mát lạnh. Tham khảo những loại mặt nạ phù hợp cho mùa đông và bí quyết để duy trì thói quen dưỡng da ngay cả trong những ngày giá rét nhất.

  • 26/02/2026

    Đau tăng trưởng (Growing pain) ở trẻ

    Đau nhức do phát triển là những cơn đau âm ỉ hoặc đau nhói kiểu chuột rút mà trẻ em có thể gặp phải và thường gặp nhất là ở chân. Những cơn đau này thường xảy ra vào cuối ngày hoặc ban đêm, đau ở cả hai chân và tình trạng sẽ đỡ hơn khi trẻ nghỉ ngơi. Vậy nguyên nhân gây ra các cơn đau này ở trẻ là gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết sau đây!

  • 25/02/2026

    Ăn trứng mỗi ngày có tốt không?

    Trứng là nguồn thực phẩm giá rẻ và giàu dinh dưỡng nhưng hàm lượng cholesterol trong trứng luôn là vấn đề gây băn khoăn. Liệu việc duy trì thói quen ăn trứng hàng ngày có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch như nhiều người lo ngại?

  • 25/02/2026

    8 loại gia vị nên dùng khi bạn đang hạn chế lượng muối

    Natri có trong muối ăn và nhiều loại gia vị khác nhau; chúng cần được kiểm soát trong các bệnh thận, tăng huyết áp và các vấn đề về tim mạch. Kiểm soát nước sốt và gia vị giúp duy trì lượng natri dưới mức giới hạn 2.300 miligam (mg) mỗi ngày, tương đương khoảng một thìa cà phê muối theo các khuyến nghị Y tế.

  • 24/02/2026

    Một số thảo dược chống viêm tiềm năng

    Phản ứng viêm là một quá trình sinh học đa bước, đòi hỏi sự can thiệp từ nhiều nhóm hợp chất khác nhau để đạt được hiệu quả điều hòa tối ưu. Từ khả năng làm giảm giải phóng histamine của La hán quả đến tác động ức chế nitric oxide của Hạ khô thảo và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ của Curcumin trong Nghệ, các thảo dược đang chứng minh vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội môi.

Xem thêm