Mất bao lâu để tóc bắt đầu mọc lại sau hoá trị?
Hoá trị không chỉ ảnh hưởng đến các tế bào ung thư mà còn ảnh hưởng đến các tế bào khoẻ mạnh, bao gồm cả những tế bào trong nang tóc hỗ trợ sự phát triển của tóc. Tổn thương các tế bào này có thể khiến tóc, lông mi, lông mày và lông ở những khu vực khác trên cơ thể rụng trong quá trình điều trị. Rụng tóc xảy ra trong vòng 1 - 3 tuần điều trị và trở nên trầm trọng hơn sau 1 - 2 tháng.
Sau lần điều trị cuối cùng, cần có thời gian để trong cơ thể hoàn toàn không còn thuốc hoá trị và ngừng tấn công các tế bào đang phân chia khoẻ mạnh. Do đó, tóc sẽ không mọc lại ngay lập tức. Hầu hết những người trải qua hoá trị liệu sẽ bắt đầu thấy tóc mỏng và mờ dần trong vài tuần sau lần điều trị cuối cùng. Tóc thật có thể bắt đầu mọc lại trong vòng 4 - 6 tuần. Tuy nhiên, một số người trải qua hoá trị lại bị rụng tóc vĩnh viễn. Một số loại thuốc, chẳng hạn như docetaxel (Taxotere) có thể gây ra tác dụng này.
Mốc thời gian
Biết về sự phát triển của tóc có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về sự mọc lại của tóc sau hoá trị. Tóc trải qua một khoảng nghỉ, đó là thời gian tóc không mọc. Tóc cũng có thể rụng khi đạt đến một độ dài nhất định hoặc khi kéo tóc. Do đó, da đầu sẽ luôn rụng một ít tóc.
Đọc thêm bài viết: 9 loại trái cây có lợi nên ăn trong và sau khi điều trị ung thư
Sau đây là từng giai đoạn mọc lại của tóc sau khi hoá trị:
Có thể mất vài năm để tóc trở lại kiểu cũ, đặc biệt đối với những người từng để tóc rất dài. Một nghiên cứu năm 2019 trên tạp chí Plos One, những người tham gia tiết lộ rằng:
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt hệ thống làm mát DigniCap, một chiếc mũ làm mát có thể giúp ngăn rụng tóc trong quá trình hoá trị. Nó hoạt động bằng cách làm mát da đầu để giảm khả năng rụng tóc ở những người đang điều trị ung thư.

Kiểu tóc và kết cấu
Sau khi hoá trị, ban đầu tóc mọc như lông tơ mỏng. Tóc rất mỏng nên có thể không nhìn thấy được từ xa. Một số nang tóc có thể bước vào thời kỳ tăng trưởng tích cực hơn những nang tóc khác. Khi điều này xảy ra, độ dài của tóc có thể thay đổi, điều này có thể làm cho tóc nhìn tổng thể bị loang lổ, có thể khó tạo kiểu. Theo thời gian, tóc sẽ mọc ổn định và đều hơn. Tuy nhiên, cấu trúc của nó có thể khác so với trước khi điều trị. Tóc mọc trở lại có thể xoăn hơn, dễ gãy hơn hoặc không theo nếp. Trong một số trường hợp, tóc cũng có thể mọc thành màu khác.
Đôi khi sự thay đổi cấu trúc tóc chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng có những trường hợp có thể là vĩnh viễn. Không có cách nào để dự đoán mái tóc của ai sẽ thay đổi kết cấu sau hoá trị hoặc sự thay đổi có vĩnh viễn hay không. Tuy nhiên, dùng Taxotere hoặc busulfan (Myleran) có thể làm tăng nguy cơ rụng tóc vĩnh viễn.
Các bác sĩ vẫn chưa hoàn toàn hiểu tại sao cấu trúc tóc đôi khi thay đổi sau khi hoá trị. Có thể là do phương pháp điều trị làm hỏng các nang tóc hoặc ảnh hưởng đến các gen kiểm soát sự phát triển tóc.
Đọc thêm bài viết: Trà sữa có thể gây ung thư?
Kích thích mọc tóc sau hoá trị
Có thể thực hiện một số bước nhất định để giữ cho tóc khoẻ mạnh khi mọc lại:
Hãy thử điều trị thuốc mọc tóc
Một số loại thuốc kích thích mọc tóc sau khi hoá trị, nhưng kết quả thì khác nhau. Hầu hết các thuốc kích thích mọc tóc đều nhằm mục đích điều trị rụng tóc cho các nguyên nhân khác ngoài hoá trị.
Mọi người nên nghe tư vấn của bác sĩ để biết được lợi ích và rủi ro của các loại thuốc trước khi quyết định sử dụng. Rụng tóc trong thời gian hoá trị có thể gây khó chịu, nhưng rụng tóc thường chỉ là tạm thời. Sử dụng tóc giả, khăn turban, các loại mũ đội đầu có thể là phương án hữu ích trong thời gian chờ mọc tóc. Tóc mọc lại sau khi hoá trị có thể là một dấu hiệu tích cực cho thấy sức khoẻ của bạn đang được cải thiện.
Phòng khám chuyên khoa Dinh dưỡng VIAM (VIAM Clinic) trực thuộc Viện Y học ứng dụng Việt Nam tư vấn, cung cấp chế độ dinh dưỡng cá thể dành cho những người đang điều trị các bệnh mạn tính, trong đó có ung thư. Hãy liên hệ với VIAM Clinic nếu bạn muốn có chế độ dinh dưỡng hỗ trợ điều trị ung thư TẠI ĐÂY hoặc Hotline: 0935.18.3939 hoặc 024.3633.5678
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.
Bệnh Crohn không chỉ gây ra những triệu chứng khó chịu về thể chất như đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi mà còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người bệnh. Xây dựng một thói quen chăm sóc bản thân phù hợp chính là cách để sống chung với bệnh nhẹ nhàng hơn.
HbA1c là chỉ số phản ánh mức đường huyết trung bình trong khoảng 3 tháng gần nhất, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và theo dõi bệnh đái tháo đường.