Đây là bệnh ngoài da phổ biến nhất, chiếm tỉ lệ ~ 90% dân số, trong đó có 8 - 18% trẻ em. Thường khởi đầu lúc trẻ và có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Nguyên nhân của bệnh làsự kết hợp của nhiều yếu tố: di truyền, miễn dịch và môi trường. Trong viêm da cơ địa dị ứng, da phát triển các mụn nước trên nền hồng ban, đóng vảy dày và rất ngứa. Gãi nhiều sẽ làm da bị sưng phù, nứt nẻ, chảy nước, sần sùi và bội nhiễm vi khuẩn.
Biểu hiện bệnh chàm ở trên cơ thể
Chăm sóc viêm da dị ứng hiện nay chủ yếu là điều trị triệu chứng: giảm viêm, giảm ngứa, chống bội nhiễm vi khuẩn bằng cách kết hợp các loại thuốc kháng histamine, kháng sinh, steroide dùng tại chỗ và thuốc điều hòa miễn dịch. Ánh sáng cực tím UV cũng có thể được sử dụng phối hợp để điều trị bệnh chàm dù chưa được FDA chấp thuận.
Crisaborole (phenoxybenoxaborole) là mộtloại thuốc mỡ không chứa steroide, được chỉ định bôi tại chỗ hai lần mỗi ngày, có tác dụng ức chế men phosphodiesterase 4B (PDE-4B) ở da. Khi tăng hoạt, men PDE-4B sẽ phóng thích TNFα (Tumor necrosis factor α), interleukin IL-12, IL-23 và các cytokines khác để tham gia vào quá trình hình thành, phát triển các triệu chứng ngoài da của bệnh chàm. Cơ chế tác dụng đặc thù của crisaborole trên viêm da cơ địa hiện vẫn chưa được xác định rõ.
FDA đã đồng ý cho sử dụng crisaborole điều trị viêm da cơ địa sau các thử nghiệm kiểm tra so sánh với giả dược được thực hiện trên 1522 bệnh nhân từ 2-79 tuổi.Kếtquả điều trị ghi nhận dựa theo sự thay đổi của ISGA (Investigator’s Static Global Assessment) là chỉ số dùng để đánh giá mức độ bệnh lý của viêm da cơ địa dựa trên các hồng ban; sự xơ cứng/sự hình thành các sẩn; sự tiết dịch /đóng mài theo thang điểm mức độ nghiêm trọng tăng dầntừ 0-4. Trong số các đối tượng nghiên cứu, có38,5% bị chàm mức độ nhẹ, ISGA 2 điểm; 61,5% bị bệnh mức độ trung bình, ISGA 3 điểm.
Kết quả cho thấy crisaborole có đáp ứng tốt hơn so với giả dược.
Sau 28 ngày điều trị với crisaborole, các sang thương da đã được xóa sạch (ISGA = 0) hay gần xóa sạch (ISGA=1).
Trong nghiên cứu này, các phản ứng bất lợi được báo cáo của hơn 1% bệnh nhân dùng crisaborole là đau châm chích, nóng rát tại vị trí bôi thuốc [4% (N = 45)] so với giả dược [1% (N = 6)]. Tỷ lệ dừng nghiên cứu do phản ứng phụ là như nhau trong nhóm crisaboroleso với giả dược (1,2%). Các bệnh nhân dùng crisaborole đã không dùng thêm phương pháp điều trị nào khác.
Crisaborole và các chất chuyển hóa được bài tiết hoàn toàn qua thận. Tác dụng phụ thường gặp nhất của thuốc là cảm giác đau châm chích, nóng rát tại chỗ bôi thuốc (1% -10%), mày đay tiếp xúc (<1%): bệnh nhân bị nổi hồng ban sưng phù và ngứa nhiều tại vị trí bôi thuốc, vùng da lân cận hay xa hơn. Trường hợp nghiêm trọng có thể xảy ra phản ứng quá mẫn. Bệnh nhân được khuyến cáo nên ngưng dùng thuốc ngay và thông báo cho Bác sĩ điều trị.
Nghiên cứu trên chuột và thỏ đang mang thai cho thấy không có tác dụng phát triển bất lợi được ghi nhận với crisaborole liều cao 3 - 5 lần qua đường uống, tương ứng với liều khuyến cáo tối đa ở người (MRHD). Chưa có dữ liệu về nguy cơ của crisaborole liên quan đến dị tật bẩm sinh haysẩy thai ở phụ nữ mang thai.
Tuynhiên, bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ điều trị biết nếu có dự định mang thai, đang có thai hay đang cho con bú.
Crisaborole là thuốc bôi dùng ngoài da, được chỉ định điều trị bệnh chàm cho bệnh nhân từ 2 tuổi trở lên, không được dùng thuốc ở mắt, miệng, hậu môn, âm đạo. Bôi thuốc 2 lần / ngày vào vị trí các vùng da bệnh.
Nên rửa tay sạch sau khi bôi thuốc, trừ khi bàn tay đang được điều trị. Đậy kỹ tube thuốc sau khi dùng và lưu trữ ở nhiệt độ 20 – 25o C.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?
Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.
Có một số loại đồ uống có thể làm tăng lượng khí trong dạ dày hoặc kích thích hệ tiêu hóa gây đầy bụng. Tìm hiểu một số loại đồ uống nên tránh hoặc hạn chế để tránh tình trạng đầy bụng trầm trọng hơn.
Thực phẩm học sinh sử dụng mỗi ngày không chỉ ảnh hưởng đến thể lực trước mắt mà còn quyết định nền tảng sức khỏe lâu dài. Việc phân biệt đúng – sai trong lựa chọn thực phẩm đang trở thành kỹ năng sống quan trọng với mỗi học sinh.
Bệnh tiêu sừng lõm lòng bàn chân là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn ảnh hưởng đến da lòng bàn chân. Tình trạng này gây ra mùi hôi và ngứa ngáy khó chịu. Bạn có nguy cơ cao mắc bệnh này nếu chân đổ mồ hôi và thường xuyên đi giày không thoáng khí. Cùng tìm hiểu về bệnh này qua bài viết sau đây!