Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Giải pháp mới cho người mắc bệnh chàm

Viêm da cơ địa dị ứng (chàm), là bệnh viêm da mạn tính gây ngứa nhiều, thường tái phát và khó điều trị khỏi hoàn toàn.

Chăm sóc viêm da dị ứng hiện nay chủ yếu là điều trị triệu chứng: giảm viêm, giảm ngứa, chống bội nhiễm vi khuẩn bằng cách kết hợp các loại thuốc kháng histamine, kháng sinh, steroide dùng tại chỗ và thuốc điều hòa miễn dịch. Mới đây, FDA,Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa kỳ vừa chấp thuận cho sử dụng loại thuốc bôi mới không steroide Eucrisa 2% (Crisaborole) để điều trị bệnh viêm da cơ địa dị ứng, hay bệnh chàm, từ mức độ nhẹ đến trung bình ở bệnh nhân từ 2 tuổi trở lên.

Đây là bệnh ngoài da phổ biến nhất, chiếm tỉ lệ ~ 90% dân số, trong đó có 8 - 18% trẻ em. Thường khởi đầu lúc trẻ và có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Nguyên nhân của bệnh làsự kết hợp của nhiều yếu tố: di truyền, miễn dịch và môi trường. Trong viêm da cơ địa dị ứng, da phát triển các mụn nước trên nền hồng ban, đóng vảy dày và rất ngứa. Gãi nhiều sẽ làm da bị sưng phù, nứt nẻ, chảy nước, sần sùi và bội nhiễm vi khuẩn.

 

Biểu hiện bệnh chàm ở trên cơ thể

Chăm sóc viêm da dị ứng hiện nay chủ yếu là điều trị triệu chứng: giảm viêm, giảm ngứa, chống bội nhiễm vi khuẩn bằng cách kết hợp các loại thuốc kháng histamine, kháng sinh, steroide dùng tại chỗ và thuốc điều hòa miễn dịch. Ánh sáng cực tím UV cũng có thể được sử dụng phối hợp để điều trị bệnh chàm dù chưa được FDA chấp thuận.

Crisaborole (phenoxybenoxaborole) là mộtloại thuốc mỡ không chứa steroide, được chỉ định bôi tại chỗ hai lần mỗi ngày, có tác dụng ức chế men phosphodiesterase 4B (PDE-4B) ở da. Khi tăng hoạt, men PDE-4B sẽ phóng thích TNFα (Tumor necrosis factor α), interleukin IL-12, IL-23 và các cytokines khác để tham gia vào quá trình hình thành, phát triển các triệu chứng ngoài da của bệnh chàm. Cơ chế tác dụng đặc thù của crisaborole trên viêm da cơ địa hiện vẫn chưa được xác định rõ.

FDA đã đồng ý cho sử dụng crisaborole điều trị viêm da cơ địa sau các thử nghiệm kiểm tra so sánh với giả dược được thực hiện trên 1522 bệnh nhân từ  2-79 tuổi.Kếtquả điều trị ghi nhận dựa theo sự thay đổi của  ISGA (Investigator’s Static Global Assessment) là chỉ số dùng để đánh giá mức độ bệnh lý của viêm da cơ địa dựa trên các hồng ban; sự xơ cứng/sự hình thành các sẩn; sự tiết dịch /đóng mài theo thang điểm mức độ nghiêm trọng tăng dầntừ 0-4. Trong số các đối tượng nghiên cứu, có38,5% bị chàm mức độ nhẹ, ISGA 2 điểm; 61,5% bị bệnh mức độ trung bình, ISGA 3 điểm.

Kết quả cho thấy crisaborole có đáp ứng tốt hơn so với giả dược.

Sau 28 ngày điều trị với crisaborole, các sang thương da đã được xóa sạch (ISGA = 0) hay gần xóa sạch (ISGA=1).

Trong nghiên cứu này, các phản ứng bất lợi được báo cáo của hơn 1% bệnh nhân dùng crisaborole là đau châm chích, nóng rát tại vị trí bôi thuốc [4% (N = 45)] so với giả dược [1% (N = 6)]. Tỷ lệ dừng nghiên cứu do phản ứng phụ là như nhau trong nhóm crisaboroleso với giả dược (1,2%). Các bệnh nhân dùng crisaborole đã không dùng thêm phương pháp điều trị nào khác.

Crisaborole và các chất chuyển hóa được bài tiết hoàn toàn qua thận. Tác dụng phụ thường gặp nhất của thuốc là cảm giác đau châm chích, nóng rát tại chỗ bôi thuốc (1% -10%), mày đay tiếp xúc (<1%): bệnh nhân bị nổi hồng ban sưng phù và ngứa nhiều tại vị trí bôi thuốc, vùng da lân cận hay xa hơn. Trường hợp nghiêm trọng có thể xảy ra phản ứng quá mẫn. Bệnh nhân được khuyến cáo nên ngưng dùng thuốc ngay và thông báo cho Bác sĩ điều trị.

Nghiên cứu trên chuột và thỏ đang mang thai cho thấy không có tác dụng phát triển bất lợi được ghi nhận với crisaborole liều cao 3 - 5 lần qua đường uống, tương ứng với liều khuyến cáo tối đa ở người (MRHD). Chưa có dữ liệu về nguy cơ của crisaborole liên quan đến dị tật bẩm sinh haysẩy thai ở phụ nữ mang thai.

Tuynhiên, bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ điều trị biết nếu có dự định mang thai, đang có thai hay đang cho con bú.

Crisaborole là thuốc bôi dùng ngoài da, được chỉ định điều trị bệnh chàm cho bệnh nhân từ 2 tuổi trở lên, không được dùng thuốc ở mắt, miệng, hậu môn, âm đạo. Bôi thuốc 2 lần / ngày vào vị trí các vùng da bệnh.

Nên rửa tay sạch sau khi bôi thuốc, trừ khi bàn tay đang được điều trị. Đậy kỹ tube thuốc sau khi dùng và lưu trữ ở nhiệt độ 20 – 25o C.

Bác sĩ LÊ ĐỨC THỌ - Theo Sức khỏe & Đời sống/ FDA.gov
Bình luận
Tin mới
  • 02/11/2026

    Tình trạng mất cơ khi dùng thuốc GLP-1: Những điều cần biết

    Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.

  • 02/11/2026

    Cúm, COVID-19, viêm phổi và RSV – 4 bệnh truyền nhiễm dễ bùng phát khi trời lạnh

    Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.

  • 01/11/2026

    Chiến dịch Movember và hành trình chủ động bảo vệ sức khỏe phái mạnh

    Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.

  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

Xem thêm