Đã từ lâu chúng ta đều nghĩ rằng: những khiếm khuyết về tâm lý, những sai lệch trong môi trường sống... cùng rất nhiều yếu tố tinh thần khác đã làm rối loạn khuynh hướng tình dục, biến những con người bình thường thành những con người đồng tính, bị cả xã hội lên án. Những người đồng tính đã phải sống trong mặc cảm tội lỗi, không được thể hiện chính mình và trong những con người ấy có rất nhiều người là thiên tài, đặc biệt là trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.
Đến năm 1991, một công trình gây chấn động các nhà khoa học - đó là công trình về giải phẫu một phần não của vùng dưới đồi của 41 người chết do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong số đó có 16 người đồng tính, trong quá trình nghiên cứu một cách khoa học và xem xét nghiêm túc những chứng cứ thu thập được cho thấy: ở những người đồng tính, thành phần não điều khiển hành vi tính dục ở người và các động vật có vú cao cấp chỉ nhỏ bằng một nửa của những người bình thường.
Năm 1993, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ mật thiết giữa hệ thống di truyền của con người và bệnh đồng tính luyến ái. Họ tìm thấy một đoạn gene đặc biệt trên nhiễm sắc thể giới tính X được truyền từ người mẹ sang và hay gặp ở những người đồng tính.
Đến năm 2003, các nhà nghiên cứu y học xã hội của Mỹ cũng đã tìm thấy mối liên quan giữa các đặc điểm của bàn tay nam giới với thái độ tính dục. Do tác động của các hormon giới tính nam, nhất là testosterone, đàn ông thường có ngón tay trỏ ngắn hơn ngón đeo nhẫn và bàn tay của những người phụ nữ đồng tính cũng mang đặc điểm này.
Cho đến thời điểm này, không thể quy trọn vẹn hiện tượng đồng tính cho nguyên nhân sinh học hay nguyên nhân tâm lý. Theo những nghiên cứu mới nhất cho thấy, vùng đồ thị trên não của những người thuộc giới thứ 3 có sự khác biệt nhất định so với những người có giới tính bình thường.
Rõ ràng, nguyên nhân sinh học có ảnh hưởng không nhỏ. Tuy vậy, chính môi trường gia đình, sự chăm sóc và cách giáo dục của bố mẹ và sự tương tác của cuộc sống xung quanh cũng là một yếu tố ảnh hưởng khá rõ đến biểu hiện của hiện tượng này.

Đồng tính có phải là bệnh?
Có thể phân nhóm đối tượng đồng tính như sau:
- Nhóm đối tượng có biểu hiện bẩm sinh từ nhỏ;
- Nhóm đối tượng chuyển hướng vì thực sự tìm được chính mình;
- Nhóm đối tượng tự chấp nhận vào cuộc tự nguyện.
Nhóm đối tượng tự chấp nhận vào cuộc tự nguyện bằng sự giả vờ vì một mục tiêu cá nhân vụ lợi nào đó. Đối tượng này thực sự rất đáng phải quan tâm vì những nguy hiểm nhất sẽ xảy ra xoay quanh mối quan hệ phức tạp này.
Với nhóm đối tượng có biểu hiện bẩm sinh từ nhỏ, có thể phân biệt 2 thời kỳ mắc bệnh là thể bào thai (tức là mắc bệnh khi còn ở trong tử cung) và thể mắc bệnh sau khi sinh. Thực tế lâm sàng thường gặp thể bào thai, ít gặp thể sau khi sinh.
Những người có thiên hướng tình dục là đồng tính thường gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống bởi sự kì thị mà họ đang gặp phải. Rất nhiều người đồng tính đã không thể đối mặt được với chính bản thân mình, giới tính của mình. Họ cảm thấy bất an, tự ti và luôn tìm cách che giấu hoặc thay đổi thiên hướng tình dục của mình. Việc nói ra mình là người đồng tính không hề dễ dàng.
Nhiều nhà khoa học tin tưởng rằng, đồng tính là bệnh và nó nên được chữa khỏi bằng các liệu pháp tâm lý, thường gọi là trị liệu đền bù (reparative therapy) nhằm nỗ lực tái định hướng những người đồng tính có xu hướng tình dục với người khác giới. Nhưng không ít nhà y học khác lại nhận định, khuynh hướng tình dục của con người là điều không thể lựa chọn, nó được hình thành có tính liên tục từ khi một cá nhân còn nhỏ cho đến tuổi đầu trưởng thành. Như thế, đồng tính nam hay nữ, lưỡng tính hay không đồng tính (dị tính) đều là những khuynh hướng bình thường và cần được tôn trọng như nhau.
Cho dù đã có nhận định về sự khác biệt vùng đồ thị trên não của những người thuộc giới thứ 3 với người có giới tính nam/nữ bình thường. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đã chính thức loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần từ những năm đầu thập niên 80 thế kỷ XX. Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, chỉ nên kết luận đồng tính luyến ái là một biểu hiện của xu hướng tình dục chứ không nên kết luận đó là sự biến thái hay suy đồi đạo đức. Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ cũng cho rằng: Đồng tính không phải là bệnh. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khẳng định rằng đồng tính hoàn toàn không phải là bệnh, vậy nên đồng tính không thể “chữa”, không cần “chữa” và cũng không thể làm cách nào thay đổi được. Vì vậy, xã hội cần có cái nhìn cởi mở và tôn trọng họ hơn.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Các vấn đề sức khỏe của quan hệ tình dục đồng giới nữ
Hội chứng tim do rượu bia trong kỳ nghỉ là tình trạng rung nhĩ do uống quá nhiều rượu gây ra. Trong mùa lễ hội hoặc các đám cưới, lễ tốt nghiệp, hoặc các dịp khác khi lượng rượu thường được tiêu thụ nhiều hơn bình thường, những người trẻ tuổi khỏe mạnh thường dễ bị các cơn rung nhĩ . Bài viết này thảo luận về rung nhĩ, nguyên nhân gây ra nó và mối liên hệ với việc tiêu thụ rượu.
Tiêm trẻ hóa da được quảng bá là giải pháp làm đẹp nhanh chóng, ít xâm lấn. Tuy nhiên, các bác sĩ cảnh báo phương pháp này tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm nếu thực hiện sai cách.
Chocolate từ lâu đã không còn đơn thuần là một món kẹo ngọt thông thường, mà đã trở thành biểu tượng đầy ý nghĩa của tình yêu và sự lãng mạn. Nhất là vào dịp Valentine, những viên chocolate luôn là lựa chọn hàng đầu để các cặp đôi gửi gắm tình cảm và sự quan tâm chân thành dành cho nhau.
Sinh mổ là một can thiệp y khoa quan trọng và cần thiết trong nhiều trường hợp, giúp mẹ và bé vượt qua những tình huống đặc biệt trong hành trình vượt cạn. Tuy nhiên, trẻ sinh mổ có nguy cơ bị thiếu hụt nhiều yếu tố miễn dịch tự nhiên hơn so với trẻ sinh thường khiến con phải đối mặt với nhiều rủi ro về sức khoẻ.
Quercetin là một hợp chất tự nhiên thuộc nhóm flavonoid – có khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ, kháng viêm và điều hòa miễn dịch.
Mọi người mặc quần áo bó sát hoặc chật vì nhiều lý do, bao gồm sự thoải mái, thời trang hoặc để tăng sự tự tin. Tuy nhiên, khi mặc quần áo quá chật quá thường xuyên, nó có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe mà mọi người không hề hay biết.
Có một số loại xét nghiệm máu có thể được sử dụng để chẩn đoán thiếu máu. Trong đó công thức máu toàn phần là xét nghiệm phổ biến nhất, các loại xét nghiệm khác tuy ít phổ biến hơn nhưng cũng có thể hữu ích trong việc giúp xác định nguyên nhân gây thiếu máu. Cùng tìm hiểu về những loại xét nghiệm này qua bài viết sau!
Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2019 có tới 2,6 triệu ca tử vong do tiêu thụ rượu, trong đó 2 triệu ca là nam giới.