1. Nguyên nhân gây bệnh nấm lưỡi
Nấm Candida thường có trong khoang miệng, lẫn trong thức ăn hay từ không khí. Bình thường, nấm này không gây bệnh. Tuy nhiên, do một số yếu tố gây suy giảm miễn dịch hoặc mất cân bằng độ PH tại niêm mạc hay vệ sinh miệng không tốt tạo điều kiện cho nấm phát triển gây bệnh nấm lưỡi.
Nguyên nhân gây nấm lưỡi thường do sau ăn ít súc miệng ở các bé hoặc sau ăn kẹo ngọt.
Người lớn nếu vệ sinh răng miệng kém hoặc có thói quen hay ăn đêm không đánh răng làm cho môi trường miệng trở thành môi trường tốt cho sự phát triển của nấm.
2. Ai dễ bị bệnh nấm lưỡi?
Ở những người bị những bệnh suy giảm hệ thống miễn dịch như HIV, lao, đái đường… là những yếu tố nguy cơ gây nên bệnh nấm lưỡi.
Những bệnh nhân hay dùng thuốc corticoid thường xuyên, dùng kháng sinh kéo dài, bệnh nhân ung thư đang sử dụng hóa chất cũng là những nguyên nhân làm ảnh hưởng tới sự phát triển của nấm.
Ngoài ra, cũng có nhiều trường hợp bị nấm lưỡi do:
- Hay bị khô lưỡi.
- Hay hút thuốc lá, hay uống rượu hoặc sử dụng các chất kích thích.
- Hay xịt các thuốc điều trị hen tại khoang miệng.
- Thiếu máu, các bệnh ung thư máu làm suy giảm dòng bạch cầu.
- Nấm lưỡi cũng có thể lây trực tiếp nên có thể lây khi hôn hoặc quan hệ tình dục bằng miệng với những bệnh nhân bị nấm lưỡi, nấm âm đạo, nấm dương vật, nấm hậu môn…
- Phụ nữ có thai bị nấm âm đạo có thể lây nấm cho con trong khi sinh.
- Trẻ bị nấm khi bú có thể lây sang cho mẹ khi mẹ tiếp xúc cho con bú.
- Do môi trường cũng có thể chứa các bào tử nấm đang phát tán nên có thể tự nhiên bị nấm mà không do lây nhiễm.

Bệnh nấm lưỡi do nấm Candida albicans gây nên.
3. Triệu chứng của nấm lưỡi
Trong giai đoạn đầu, bệnh nấm lưỡi thường ít có biểu hiện. Thường bệnh nhân đôi khi có cảm giác nóng rát vùng lưỡi ở một số các vị trí khác nhau của lưỡi hoặc hơi ngứa nhẹ.
Tuy nhiên, sang giai đoạn sau, các triệu chứng xuất hiện ngày càng rõ rệt như:
- Trên lưỡi xuất hiện những mảng loang lổ màu trắng kem. Sau đó chuyển thành những mảng vàng như phomai, xanh, có khi gặp những mảng đen, hoại tử trong trường hợp nặng.
- Bệnh nhân cảm thấy đau nhức hoặc đau rát khi nuốt nước bọt. Đặc biệt khi ăn những đồ rắn, cay, nóng càng thấy đau rát hơn.
- Bệnh nhân khó nuốt, nhất là khó nuốt những thức ăn cứng. Trong trường hợp nặng, bệnh nhân hầu như không ăn uống được.
- Đôi khi bệnh nhân bị chảy máu lưỡi, đặc biệt là khi chạm dụng cụ khám vào lưỡi nên khi khám cần hết sức nhẹ nhàng tránh va chạm vào lưỡi.
- Có cảm giác khô lưỡi.
- Nấm lưỡi gây hôi miệng nên bệnh nhân thường mất tự tin khi giao tiếp, miệng lúc nào cũng có mùi hôi nên luôn che miệng.
- Khi ăn uống bệnh nhân thường không cảm nhận được vị giác, ăn không thấy ngon.
- Ở trẻ em bị nấm lưỡi, trẻ thường có biểu hiện:
+ Bỏ bú, khó ăn uống, quấy khóc liên tục.
+ Đầu lưỡi đỏ, lưỡi loang lổ như hình bản đồ.
+ Trẻ bú mẹ có thể làm mẹ bị nhiễm nấm gây đầu vú đỏ, ngứa, nứt, da bong trên đầu núm vú, đau rát mỗi khi cho con bú.

Trẻ bị bệnh nấm lưỡi thường bị đau nhức, khó chịu, quấy khóc, bỏ bú...
4. Chẩn đoán và điều trị nấm lưỡi
4.1 Chẩn đoán
Bệnh nấm lưỡi nếu không điều trị có thể gây nấm miệng, nấm thực quản, nấm toàn thân, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
Bệnh nhân cần được khám kỹ. Khi khám lưỡi thường thấy biểu hiện:
- Lưỡi thường bị nứt nẻ thành những vệt dài.
- Đầu lưỡi niêm mạc đỏ rực.
- Trên lưỡi thấy hình loang lổ từng mảng trắng hoặc vàng, xanh, có thể hoại tử những mảng đen.
Các xét nghiệm nấm lưỡi soi tươi và cấy nấm để định dạng nấm là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán nấm lưỡi.

Xét nghiệm nấm lưỡi soi tươi và cấy nấm là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán nấm lưỡi.
4.2 Điều trị bệnh nấm lưỡi ở trẻ nhỏ
Đối với trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh cần lựa chọn dung dịch chống nấm có tính an toàn cao, vừa phải đảm bảo diệt nấm cho bé.
- Cách đánh tưa cho bé:
+ Bố mẹ rửa sạch tay trước khi làm.
+ Đặt bé nằm ngửa.
+ Sử dụng miếng gạc mềm, sạch, quấn quanh ngón trỏ nhúng vào dung dịch chống nấm nhẹ nhàng lau mặt lưỡi từ trong ra ngoài.
+ Nếu chưa sạch có thể sử dụng gạc khác lau nhẹ nhàng lại 1 lần nữa. Các động tác nhẹ nhàng, dứt khoát không được gây tổn thương cho trẻ và tránh làm trẻ bị sặc hoặc ngạt.

Sử dụng gạc mềm nhúng dung dịch chống nấm để lau lưỡi cho trẻ.
4.3 Điều trị bệnh nấm lưỡi ở trẻ lớn và người lớn
- Dùng thuốc súc miệng và xịt tại chỗ để chống nấm trong những trường hợp nhẹ.
- Những trường hợp nặng hơn hoặc điều trị tại chỗ không có kết quả thì cần sử dụng thuốc chống nấm toàn thân.
+ Liều dùng ban đầu là từ 7 đến 14 ngày.
+ Trong những trường hợp nặng hoặc những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch như HIV… thì cần kéo dài vài tháng.
- Các thuốc có thể sử dụng:
+ Nystatin: Nystatin là loại thuốc có cấu trúc polyen. Thuốc này có tác dụng tốt trên nấm men Candida. Thuốc sử dụng cơ chế gắn sterol của màng tế bào nấm làm thay đổi tính thấm của chúng khiến các chất trong bào tương nấm bị thoát ra ngoài gây tổn thương làm giảm sự phát triển và tiêu diệt nấm.
Tác dụng phụ của thuốc là quá trình trên làm giải phóng chất canđium gây dị ứng, nổi mề đay, buồn nôn, tiêu chảy…
+ Miconazol: Miconazol là loại thuốc hoạt động dựa trên cơ chế ứ chế enzyme tổng hợp ergosterol, là thành phần quan trọng làm nên màng tế bào nấm. Từ đó ức chế sự phát triển và tiêu diệt nấm. Tuy nhiên thuốc này gây tác dụng phụ như viêm gan, dị ứng, tiêu chảy…
+ Fluconazol: Fluconazol là thuốc kháng nấm triazol tổng hợp qua cơ chế ức chế cyp P 450 14-anpha demethylase là men tổng hợp ergosterol-sterol, là chất chủ yếu ở màng tế bào nấm. Từ đó ức chế và tiêu diệt nấm. Tuy nhiên, tác dụng phụ của thuốc là gây buồn nôn, chóng mặt, đi ngoài…
+ Clotrimazol: Clotrimazol là thuốc kháng nấm thuộc nhóm imidazole tổng hợp có phổ rộng. Cơ chế hoạt động là liên kết với các phospholipid trên màng tế bào nấm, làm thay đổi tính thấm màng tế bào nấm. Từ đó gây mất chất nội dịch do đó tiêu diệt tế bào nấm. Thuốc có tác dụng phụ là nhức đầu, buồn nôn, dị ứng, tăng men gan, giảm bạch cầu.
+ Trường hợp nhiễm nấm nặng có thể sử dụng thuốc amphotericin B.
5. Phòng ngừa nấm lưỡi như thế nào?
- Vệ sinh răng miệng tốt. Súc miệng thường xuyên bằng dung dịch nước muối sinh lý tạo độ ẩm và sự cân bằng cho hệ thống niêm mạc lưỡi.

Súc miệng thường xuyên bằng nước muối sinh lý để phòng bệnh nấm lưỡi.
- Không lạm dụng thuốc súc hoặc xịt họng sát khuẩn kéo dài.
- Cần bỏ có thói quen có hại như: hút thuốc, uống rượu, sử dụng các chất kích thích.
- Ăn uống đủ chất dinh dưỡng và tập luyện thường xuyên để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Nên ăn thêm sữa chua để bổ sung các loại men tốt cho cơ thể đồng thời loại bỏ những men nấm gây bệnh.
- Nấm lưỡi có thể lây trực tiếp nên có nhiều đường lây đa dạng. Do đó cần tránh dùng chung các đồ vệ sinh cá nhân cũng như những tiếp xúc trực tiếp với những bệnh nhân bị nấm lưỡi, nấm âm đạo, nấm hậu môn hay nấm men dương vật để phòng ngừa lây từ bạn tình bị mắc bệnh.
- Phụ nữ mang thai bị nấm âm đạo có thể lây cho con gây nấm lưỡi, nấm mắt... Vì vậy, trước khi mang thai cần điều trị nấm âm đạo để tránh lây bệnh cho con.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Nhận biết bệnh nhiễm nấm lưỡi ở trẻ em.
Bệnh Crohn là một dạng bệnh viêm ruột mạn tính, thường gây tiêu chảy kéo dài khiến người bệnh dễ rơi vào tình trạng mất nước và mất cân bằng điện giải. Việc xây dựng thói quen bù nước phù hợp có thể giúp giảm bớt gánh nặng này.
Sàng lọc ung thư vú là một công cụ quan trọng để phát hiện sớm các trường hợp bệnh và điều trị trước khi chúng có cơ hội lan rộng. Tuy nhiên, một số lầm tưởng và quan niệm sai lầm khiến mọi người không đi khám sàng lọc cần thiết. Bài viết này sẽ đề cập đến những quan niệm sai lầm phổ biến và thảo luận về những phát hiện của nghiên cứu.
Nước bọt có thể truyền nhiều bệnh truyền nhiễm khác nhau, bao gồm bệnh tăng bạch cầu đơn nhân, viêm họng do liên cầu khuẩn và nhiễm virus rota. Hiểu rõ cách thức lây lan của các bệnh này giúp bạn thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa.
Thời tiết chuyển lạnh là khoảng thời gian khiến nhiều bậc phụ huynh bắt đầu lo lắng và trăn trở về sức khỏe của con cái. Chúng ta thường có suy nghĩ rằng mùa đông chỉ mang theo những cơn cảm lạnh hay ho sốt thông thường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các bệnh lây nhiễm nguy hiểm, bao gồm cả những căn bệnh do muỗi truyền như sốt xuất huyết, vẫn luôn rình rập và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của trẻ nhỏ, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á. Để con có một mùa đông thực sự khỏe mạnh và trọn vẹn, việc trang bị kiến thức về tiêm chủng cũng như các biện pháp phòng bệnh tại nhà là điều vô cùng cần thiết. Bài viết dưới đây sẽ giúp cha mẹ hiểu rõ hơn về cách tạo ra một "lớp áo giáp" vững chắc, nhằm bảo vệ con yêu khỏi những tác nhân gây bệnh trong giai đoạn thời tiết khắc nghiệt này.
Uống cà phê có thể góp phần bổ sung nước cho cơ thể mỗi ngày, nhưng điều quan trọng là phải uống điều độ. Mặc dù cà phê được tính vào lượng chất lỏng cần thiết, nhưng uống quá nhiều có thể dẫn đến mất nước do tác dụng lợi tiểu của nó.
Mùa đông ở miền Bắc nước ta thường mang theo cái lạnh thấu xương, kèm theo độ ẩm cao khiến nhiều gia đình, đặc biệt là người già và trẻ nhỏ, dễ bị nhiễm lạnh và mắc bệnh. Ở một đất nước có mùa đông giá rét và tuyết rơi dày đặc như Nhật Bản, người dân nơi đây từ lâu đã đúc kết được những phương pháp giữ ấm vô cùng độc đáo, kết hợp giữa truyền thống và các sản phẩm hiện đại. Những bí quyết này không chỉ giúp cơ thể luôn ấm áp, phòng tránh bệnh tật mà còn rất tiết kiệm và dễ dàng áp dụng. Dưới đây là những mẹo giữ ấm chuẩn phong cách Nhật Bản mà các bậc cha mẹ Việt có thể học hỏi và áp dụng ngay cho tổ ấm của mình.
Một nghiên cứu mới công bố cho thấy chỉ cần ngửi mùi socola đen trước và trong khi tập luyện cũng có thể giúp cải thiện hiệu suất tập gym, đồng thời làm giảm cảm giác đói bụng sau buổi tập.
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.