Bệnh vẩy phấn hồng gibert là gì?
Bệnh vẩy phấn hồng gibert là một bệnh viêm nhẹ trên da cấp tính, giới hạn ở da với thương tổn lâm sàng là mảng da đỏ hồng có vẩy phấn kèm theo ngứa. Bệnh thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên, có tần suất mắc nhiều về mùa xuân hoặc mùa thu.
Vẩy phấn hồng gibert là bệnh truyền nhiễm, hiện vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân. Các bác sĩ thường dựa vào dấu hiệu, triệu chứng của bệnh trên da để chẩn đoán và điều trị.
Triệu chứng của bệnh vẩy phấn hồng gibert
-Ngứa ở vùng dâ bị tổn thương và dần lan rộng ra các vị trí khác trên cơ thể.
– Khi mới xuất hiện, trên da có những mảng hồng ban hình bầu dục, màu đỏ, tróc vảy, hơi nhô cao trên bề mặt da. Vị trí thường gặp ở bụng, ngực, lưng,…
– Sau 7-14 ngày, các đốm hồng ban tróc vảy, đôi khi gây ngứa.
-Khoảng 69% bệnh nhân bị vảy phấn hồng cũng có các triệu chứng nhiễm trùng hô hấp như: nghẹt mũi, đau cổ họng, ho… Song song với phát ban, người bệnh có thể bị sốt nhẹ, đau đầu, buồn nôn và mệt mỏi…
-Triệu chứng chung khác có thể quan sát thấy là sẩn ngứa nhẹ, sốt nhẹ, mệt mỏi, hạch limphô ở nách có thể sưng.
-Tổn thương da thông thường sẽ biến mất sau 6 tuần nhưng có thể kéo dài tới 2-3 tháng. Tổn thương ở phía dưới, có thể kéo dài hơn. Bệnh có thể để lại tăng hay giảm sắc tố nhưng thông thường không để lại dấu vết gì.
Chữa vẩy phấn hồng gibert như thế nào?
Trong đa số các trường hợp, vẩy phấn hồng gibert sẽ tự khỏi bệnh sau 4-8 tuần không cần phải dùng thuốc. Việc điều trị chủ yếu là kiểm soát triệu chứng ngứa. Các thuốc kháng virus (acyclovir, famciclovir) hay kháng sinh (erythromycin) có thể rút ngắn thời gian kéo dài của vẩy phấn hồng gibert xuống 1-2 tuần. Nếu bệnh nhân ngứa nhiều, bác sĩ điều trị có thể dùng thêm kem, pommade có Steroid như Elomet, Flucinar, Diprosone, Dermovate, Lorinden…giúp giảm ngứa và sang thương bớt đỏ; thuốc kháng histamines như Cetirizine (Zyrtec), Fexofenadine (Allegra, Telfast) Diphenhydramine (Benadryl), Chlorpheniramine (Chlor-Trimeton), Clemastine (Tavist) , Loratadine (Claritin); Quang trị liệu chiếu tia cực tím UVB vào sang thương da.
Để giảm cảm giác khó chịu, bệnh nhân đươc khuyên nên tắm nước ấm với dung dịch Calamine và tránh các hoạt động thể lực gây mồ hôi nhiều, nghỉ ngơi trong điều kiện nhiệt độ mát và thông khí tốt.
Chấy rận do ký sinh trùng trên da gây ra, gồm 3 loại là chấy, rận và rận mu. Tuy không gây hiểm, nhưng bệnh rất dễ lây truyền, đồng thời gây cảm giác vô cùng khó chịu cho bệnh nhân. Hiểu rõ bệnh sẽ giúp người đọc cách phòng ngừa và điều trị kịp thời.
Theo khuyến cáo của Viện Dinh dưỡng, rau và trái cây đều là nhóm thực phẩm thiết yếu, nhưng không thể thay thế cho nhau trong khẩu phần hàng ngày. Việc hiểu rõ sự khác biệt giữa hai nhóm này sẽ giúp xây dựng chế độ ăn khoa học, cân đối và tốt cho sức khỏe.
Nhiều loại trái cây không chỉ nổi tiếng với vitamin và chất xơ mà còn là nguồn cung cấp magie dồi dào. Đây là khoáng chất thiết yếu giúp cải thiện giấc ngủ, giảm căng thẳng và bảo vệ sức khỏe não bộ.
Ngày trời nắng nóng mang đến nhiều thách thức cho hệ tiêu hóa. Nhiệt độ tăng cao gia tăng nguy cơ mất nước, giảm trao đổi chất và gây khó chịu cho dạ dày. Để giữ cho hệ tiêu hóa hoạt động một cách tốt nhất, việc áp dụng các thói quan hỗ trợ sức khỏe đường ruột, làm mát dạ dày và tăng cường sức khỏe tổng thể của hệ tiêu hóa là vô cùng cần thiết và thiết yếu.
Nước dừa là thức uống tự nhiên giúp bù nước, bổ sung điện giải và hỗ trợ tốt cho tim, thận.
Là một người mẹ, hạnh phúc đôi khi đến từ những điều rất nhỏ bé - thấy ánh mắt rạng rỡ của con vào mỗi bữa ăn, tròn giấc ngủ sau một ngày học tập, vui chơi hay thấy con cao lớn mỗi ngày. Chính vì vậy, trong hành trình nuôi con, mẹ luôn chăm chút từng chi tiết từ bữa chính đến cả bữa ăn nhẹ để con luôn đủ đầy năng lượng.
Bánh quy sữa D-Maxx Marie cân bằng giữa khẩu vị của trẻ và thành phần dưỡng chất, bổ sung vitamin D lẫn canxi, góp phần cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho bé.
Rau quả được xem là "kho" vitamin và khoáng chất tự nhiên. Các loại rau lá xanh, củ quả nhiều màu sắc cung cấp đa dạng dưỡng chất như vitamin A, C, E, kali, chất xơ và các hợp chất chống oxy hóa.