Đây là căn bệnh nguy hiểm ở trẻ, ảnh hưởng tới sức khoẻ, sự phát triển thông minh của trẻ.
Bé Nguyễn Hà Tr. 11 tuổi, trú tại Phú Xuyên, Hà Nội được mẹ đưa đi khám ở Bệnh viện Nội tiết trung ương. Tại đây, bé được bác sĩ chẩn đoán bướu cổ đơn thuần. Chị Lên, mẹ của bé Tr., cho biết, từ đầu năm chị thấy con có bướu nhỏ ở cổ, nhất là khi bé hít vào, bướu nhân nhìn rất rõ.
Chị cho con đi kiểm tra ở Bệnh viện Thường Tín, bác sĩ chẩn đoán bướu cổ. Sau đó chị đã cho con đi kiểm tra ở Bệnh viện Nội tiết thêm lần nữa. Bé được bác sĩ chọc hút dịch. Gần đây, chị thấy bướu cổ của con lại to hơn nên cho con đi kiểm tra tiếp.
Chị Lên cho biết, nhà chị không có ai bị bướu cổ. Lúc cho con đi kiểm tra chị đã rất lo lắng. Thời gian bác sĩ làm sinh thiết, cả gia đình chị mất ăn mất ngủ. May mà cháu chỉ bị bướu cổ thường.
Khi được hỏi về việc ăn muối I ốt, chị Lên cho biết, từ rất lâu gia đình chị không ăn muối mà chuyển sang nêm gia vị bằng bột canh. Chị cũng chẳng bao giờ để ý nó có thành phần I ốt hay không. Từ sau khi con bị bệnh, chị mới chuyển sang ăn hẳn muối I ốt.
Vì bệnh bướu cổ nên cháu gầy hơn bạn bè, da xanh hơn. Chị Lên muốn chờ con lớn thêm vài tuổi nữa mới mổ.
Cháu Phan Thị Bích L. 9 tuổi ở Lục Nam, Bắc Giang bị bệnh bướu cổ. So với bạn bè cùng trang lứa, lúc nào Bích L. cũng bị coi là đần độn vì kém phát triển trí tuệ. Gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên không cho em đi khám.
Một lần, các bác sĩ tình nguyện về địa phương khám miễn phí, mẹ cho L ra khám mới biết con chậm phát triển do bị bướu cổ, điều trị không kịp thời.
TS Phan Hướng Dương trong một lần hiến máu tính nguyện
Theo TS Phan Hướng Dương – Phó Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ trẻ có biến chứng đần độn do bướu cổ không phải là quá cao. Tuy nhiên một khi trẻ đã có biến chứng chậm phát triển thì lại không thể hồi phục được.
Khi phát hiện hoặc nghi ngờ trẻ bị bướu cổ, cha mẹ nên đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.
Nguyên nhân cơ bản gây bướu cổ, theo TS Dương, là do tình trạng thiếu I ốt. Hàng ngày cơ thể cần từ 150 – 200mcg i ốt, nguồn gốc từ thức ăn, nước uống, không khí… Nếu sống ở vùng thiếu i ốt, nguồn nước, các loại động thực vật sống ở đó cũng thiếu i ốt. Hậu quả là cơ thể không nhận đủ lượng i ốt cần thiết.
TS Dương cho biết, theo điều tra, nhu cầu I ốt hiện nay chỉ đáp ứng được 25 – 30%. Đặc biệt, các con số điều tra mới nhất của Bệnh viện Nội tiết trung ương, tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8 – 10 tuổi là 9,8%.
TS Dương cảnh báo: 'Tình trạng thiếu hụt I ốt đã quay trở lại. Trước năm 2005 tình trạng thiếu I ốt nghiêm trọng và chúng ta đã làm chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống thiếu I ốt đạt hiệu quả rất cao. Nhưng từ sau năm 2005, thiếu sự quan tâm đã dẫn đến hệ quả thiếu I ốt và hàng loạt các bệnh liên quan đến thiếu I ốt xảy ra.
Do kinh phí, nhân lực hoạt động trong hệ thống suy giảm từ trung ương tới địa phương nên không ai còn quan tâm tới I ốt là gì. Đây là điều kinh khủng khi bệnh bướu cổ đã quay trở lại, ảnh hưởng tới chỉ số IQ của trẻ, có thể sinh ra cả thế hệ đần độn.
Theo điều tra của Bệnh viện Nội tiết trung ương, tỷ lệ trẻ em bị bướu cổ do thiếu I ốt ở 7 vùng sinh thái, đây là kết quả đáng lo ngại. Bất ngờ hơn, tỷ lệ thiếu hụt I ốt hiện nay đánh giá rõ nét nhất lại nằm ở đồng bằng, thành phố chứ không phải ở miền núi.
Từ trước 2005 đến nay khu vực Tây Nguyên, miền núi vẫn có chính sách trợ cước, trợ giá cho muối I ốt, sau đó các tỉnh có hỗ trợ mua muối I ốt cho bà con nên đồng bào khu vực miền núi vẫn có I ốt dùng, người dân không thiếu muối I ốt, trẻ con giảm bướu cổ hơn. Còn ở đồng bằng, trẻ em lại thiếu I ốt nhiều hơn.
Phòng bệnh bướu cổ ở trẻ em, TS Dương nhấn mạnh, giải pháp đã được Bệnh viện Nội tiết trung ương báo cáo Bộ Y tế và đến nay Bộ Y tế đã báo cáo chính phủ đưa vào công tác dân số từ 2016 – 2020. Kế hoạch này đã báo cáo Thủ tướng và đang chờ phê duyệt. Đây là chính sách quan trọng duy trì thanh toán rối loạn thiếu I ốt.
I ốt bắt buộc phải cho vào muối vì muối ăn là thứ gia vị mà không ai quên được trong sinh hoạt hàng ngày. Trước nỗi lo bổ sung I ốt kèm theo nỗi lo ăn mặn và các bệnh do ăn mặn gây ra, TS Dương khẳng định, theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới WHO, tỷ lệ I ốt được đưa vào trong muối ăn và hàm lượng muối dùng tối thiểu cho một người/ngày hoàn toàn phù hợp với nhu cầu 6 gram muối/ngày.
Uống nước chanh pha hạt chia có thể cải thiện tiêu hóa và giúp ngăn ngừa táo bón. Thức uống này giúp kiểm soát lượng đường trong máu nhờ hàm lượng chất xơ có trong hạt chia và những chất dinh dưỡng có trong chanh.
Từng là bí kíp để giúp giò chả, bánh đúc hay bún trở nên ngon miệng, hương vị hấp dẫn hơn, nhưng hiện nay hàn the đã bị Bộ Y tế liệt vào danh sách cực độc và cấm sử dụng trong thực phẩm. Tại sao một hoạt chất có vẻ "tiện lợi" này lại trở thành kẻ thù của sức khỏe cộng đồng? Trong bài viết này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ cung cấp thông tin giúp bạn có cái nhìn tổng quan về loại chất cấm này.
Ô nhiễm không khí và thời tiết lạnh khiến số ca nghẹt mũi, đau họng, ho, cảm lạnh gia tăng. Xông hơi bằng thảo dược tự nhiên là giải pháp đơn giản giúp thông xoang, làm dịu cổ họng và hỗ trợ đường hô hấp.
Hầu hết tóc của bạn được cấu tạo từ chất đạm (protein), cụ thể là keratin. Bổ sung chất đạm qua chế độ ăn uống có thể giúp tóc khỏe đẹp...
Táo giàu vitamin và chất xơ có lợi cho tiêu hóa. Có thể ăn táo vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày nhưng nếu mục đích ăn táo để giảm cân, hãy tham khảo 3 thời điểm hiệu quả nhất.
Hút thuốc lá từ lâu đã trở thành thói quen khó bỏ đối với hàng triệu người trên thế giới, đặc biệt là những người đã duy trì thói quen này qua nhiều năm. Tại Việt Nam, theo thống kê từ Bộ Y tế, tỷ lệ hút thuốc trong nam giới trưởng thành tuy có giảm từ 47,4% năm 2010 xuống còn 38,9% năm 2023, nhưng con số này vẫn cho thấy một thách thức lớn.
Cá khô là nguồn cung cấp protein, omega-3 và khoáng chất cô đặc. Nếu lựa chọn loại ít muối, cá khô có thể thay thế đồ tươi hiệu quả. Tham khảo danh sách 5 loại cá khô tốt nhất cho sức khỏe.
Nhiễm trùng bàng quang là một loại nhiễm trùng đường tiết niệu phát triển ở bàng quang, cơ quan rỗng chứa nước tiểu. Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể phát triển ở bất kỳ vị trí nào trong hệ tiết niệu, bao gồm thận, niệu quản, bàng quang hoặc niệu đạo.