Khi trẻ bị viêm phổi được điều trị kháng sinh phù hợp, kết quả thường khá khả quan: khoảng 70% trẻ sẽ khỏi mà không để lại di chứng gì. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, viêm phổi có thể có biến chứng.
Một trong những biến chứng nặng nề mà trẻ phải chịu đựng là hình thành những ổ mủ trong phổi. Đó chính là áp-xe phổi. Đây là bệnh rất nặng và có nhiều biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng tới sinh mạng của bệnh nhi. Với những tiến bộ trong điều trị hiện nay, số trẻ bị áp-xe phổi đã giảm rõ rệt so với nhiều chục năm trước đây, thậm chí không còn gặp nữa ở nhiều bệnh viện. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, biến chứng viêm phổi hoại tử, thậm chí áp-xe phổi lại có xu hướng tái xuất hiện.
Áp-xe phổi là gì?
Đây một bệnh lý viêm nhiễm cấp tính gây hoại tử ở nhu mô phổi, tạo nên một hay nhiều hang chứa mủ có kích thước trên 2cm.
Người ta phân biệt 2 loại: Áp-xe phổi nguyên phát: xảy ra ở trẻ mạnh khoẻ - phổi bình thường trước đây; Áp-xe phổi thứ phát: xảy ra ở trẻ có bất thường phổi bẩm sinh hoặc mắc phải (như sau viêm phổi, viêm phổi hít, biến chứng sau phẫu thuật...).
Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt ở bệnh nhân có các rối loạn cơ chế bảo vệ của phổi và suy giảm khả năng miễn dịch của cơ thể. Nói chung, áp-xe phổi ít gặp hơn và có tiên lượng tốt hơn người lớn. Riêng ở trẻ em, bệnh thường gặp hơn ở trẻ dưới 3 tuổi.
Các yếu tố nguy cơ dễ bị áp-xe phổi ở trẻ em là: Suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải (HIV/AIDS), trong đó còn có thể do thuốc ức chế miễn dịch, điều trị ung thư; Dị tật lồng ngực, dị tật phổi bẩm sinh, trẻ dễ bị hít sặc vào phổi, nhất là khi có vệ sinh răng miệng kém: bại não, bệnh thần kinh - cơ; sau gây mê, đặt nội khí quản, thở máy; rối loạn nuốt; bất thường hoạt động thực quản; Chấn thương lồng ngực, dị vật đường thở bỏ quên.
Nguyên nhân chính của áp-xe phổi là do vi khuẩn, có thể do vi khuẩn xâm nhập vào theo đường phế quản, theo đường máu, do viêm phổi hay xâm nhập qua cơ hoành. Vi khuẩn thường gặp ở đây là phế cầu, tụ cầu vàng, liên cầu...
Dấu hiệu của bệnh
Một trường hợp áp-xe phổi điển hình thường có biểu hiện qua các giai đoạn như sau:
Giai đoạn ổ mủ kín: bệnh nhân có ho, sốt cao 39-400C, đau ngực, có thể có khó thở. Giai đoạn ộc mủ: sau 1 thời gian, bệnh nhân đột ngột ho tăng lên, đau tăng. Ho dữ dội và ộc ra rất nhiều mủ. Mủ đặc quánh màu vàng hoặc nhầy màu vàng, có thể có mùi rất thối. Bệnh nhân vã mồ hôi, mệt lả, sau đó hết sốt, dễ chịu, ăn ngủ được. Ở giai đoạn ộc mủ, cần đề phòng mủ tràn vào đường thở gây ngạt thở. Bệnh nhân có thể ho ra máu hoặc khạc ra ít mủ nhiều lần trong ngày.
Giai đoạn ổ mủ thông với phế quản: bệnh nhân vẫn ho dai dẳng, nhất là khi thay đổi tư thế và khạc mủ số lượng ít hơn.
Xquang ngực trong giai đoạn điển hình có thể cho thấy ổ mủ trong phổi rõ ràng với một hoặc nhiều hang dạng tròn có mức nước - hơi, bờ dày, xung quanh là tổ chức phổi đông đặc do bị viêm.
Biến chứng nguy hiểm
Áp-xe phổi có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như viêm mủ màng phổi, viêm mủ màng tim do vỡ ổ áp-xe lây lan; áp-xe não, viêm màng não; giãn phế quản quanh ổ áp-xe; ho máu nặng (gọi là ho máu sét đánh); nấm phổi; nhiều bệnh nhân bị suy kiệt và có thể tử vong. Tử vong do áp-xe phổi ngày nay tuy ít gặp hơn trước đây nhưng trên thế giới, tỷ lệ này thay đổi nhiều từ 2 - 38% tùy vùng, quốc gia.
Điều trị thế nào?
Dù là bệnh nặng nhưng áp-xe phổi vẫn có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hoặc ngoại khoa tuy cần phải thật khẩn trương, tích cực và đòi hỏi nhiều thời gian, công sức trong môi trường chuyên khoa. Việc điều trị bao gồm:
Kháng sinh: cần điều trị kháng sinh sớm, liều cao, đường tĩnh mạch, phối hợp kháng sinh. Thời gian điều trị là lâu dài và thường phải tính bằng tuần: thường 6-8 tuần, trong đó ít nhất 2 tuần bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch.
Dẫn lưu ổ áp-xe với các phương pháp: dẫn lưu tư thế (tùy theo vị trí ổ mủ mà chọn tư thế bệnh nhân để mủ dễ ra ngoài kết hợp với vỗ rung lồng ngực), chọc dẫn lưu mủ qua thành ngực, hút mủ qua nội soi phế quản ống mềm... Các điều trị khác: Đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân; Đảm bảo cân bằng nước điện giải, thăng bằng kiềm toan; Giảm đau, hạ sốt.
Những trường hợp cần chỉ định phẫu thuật cắt phần phổi chứa ổ áp-xe: Ổ áp-xe lớn, có kích thước trên 8cm; Áp-xe phổi mạn tính điều trị nội khoa không kết quả sau 6 tuần; Ho ra máu tái phát hoặc ho máu lượng nhiều đe doạ tính mạng; Áp-xe phối hợp với giãn phế quản khu trú nặng; Có biến chứng dò phế quản - khoang màng phổi.
Lời khuyên của thầy thuốc
Phòng ngừa áp-xe phổi có khó? Áp-xe phổi là bệnh nặng, có thể có biến chứng nguy hiểm, việc điều trị khó khăn, tốn kém vì phải dùng thuốc kháng sinh kéo dài mà có khi lại cần phải phẫu thuật cắt bỏ phổi. Do đó, việc phòng bệnh có ý nghĩa rất quan trọng và bao gồm các biện pháp như: Luôn giữ vệ sinh răng miệng, mũi, họng để tránh viêm nhiễm từ trên lan xuống phổi gây áp-xe, đặc biệt ở bệnh nhân có nguy cơ đã nêu trên. Phòng chống viêm hô hấp cấp nói chung và viêm phổi nói riêng. Ðiều trị tích cực các nhiễm khuẩn răng hàm mặt, tai mũi họng, hô hấp. Ðiều trị triệt để các bệnh là yếu tố nguy cơ gây áp-xe phổi. Phòng ngừa các dị vật rơi vào đường thở.
Bước vào lớp 1 là một bước ngoặt lớn, đánh dấu sự thay đổi toàn diện về tâm sinh lý và cách học tập, vui chơi của trẻ. Việc chuyển sang một môi trường hoàn toàn mới dễ khiến con bỡ ngỡ, đồng thời tạo ra không ít áp lực, lo lắng cho các bậc phụ huynh. Nếu cha mẹ thiếu sự chuẩn bị chu đáo hoặc chưa thực sự thấu hiểu tâm lý lứa tuổi, giai đoạn chuyển giao này có thể vô tình trở thành một cuộc khủng hoảng đối với đứa trẻ.
Thực phẩm chức năng bổ sung collagen thường được quảng cáo giúp làn da mịn màng và xương khớp khỏe mạnh hơn. Vậy những lợi ích này thực tế đến đâu?
Mặc dù bệnh lao hoàn toàn có thể phòng ngừa và điều trị khỏi, đây vẫn là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do các bệnh truyền nhiễm trên toàn cầu. Trung bình mỗi ngày, thế giới ghi nhận gần 30.000 người mắc mới và hơn 4.100 ca tử vong. Bệnh tiến triển âm thầm, phát hiện muộn, dẫn đến nguy cơ lây lan diện rộng trong cộng đồng trước khi người bệnh được can thiệp y tế.
Khi bắt đầu dùng thuốc hạ huyết áp, người bệnh vẫn cần điều chỉnh chế độ ăn, đặc biệt hạn chế muối, rượu bia, đường và chất béo...
Nghệ được biết đến với các lợi ích chống oxy hóa và chống viêm, giúp giảm nguy cơ mắc nhiều bệnh viêm mãn tính. Việc dùng nghệ cùng với các chất bổ sung khác có thể tăng cường khả năng hấp thụ và mang lại thêm nhiều lợi ích cho sức khỏe.
Chuẩn bị bữa sáng đủ chất tại nhà giúp con duy trì thể lực và tỉnh táo suốt buổi học khi bước vào năm học mới.
Ngứa hậu môn có thể gây lo ngại, nhưng thường không phải là dấu hiệu của ung thư hậu môn.
Thói quen uống nước ép củ dền trong 7 ngày liên tục có thể mang đến một số cải thiện bất ngờ cho sức khỏe.