Các hạch bạch huyết là hạt giống hạt đậu, trông giống như tế bào lympho - các tế bào máu trắng có vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch. Nhiễm trùng và viêm thường là nguyên nhân phổ biến gây sưng hạch bạch huyết ở cổ họng. Ít phổ biến hơn, ung thư phát triển trong các hạch bạch huyết vùng hầu họng cũng kích thích chúng sưng to.
Viêm họng
Các tuyến vùng họng bị sưng thường do nhiễm trùng họng hoặc viêm họng. Virus là nguyên nhân gây nên 85 đến 95% số trường hợp viêm họng ở người lớn và 70 đến 80% số trường hợp ở trẻ em.
Các tuyến bị sưng nhẹ hoặc không đau thường xảy ra với viêm họng do virus. Viêm họng do liên cầu (một bệnh nhiễm trùng do liên cầu khuẩn nhóm A gây ra) và hầu hết các viêm họng do vi khuẩn, sẽ gây sưng to và đau họng nhiều. Các triệu chứng thường bao gồm sốt, nhức đầu, đau họng và sưng, căng tức các tuyến ở cổ. Trẻ em tuổi đi học là đối tượng thường bị viêm họng do liên cầu khuẩn nhiều nhất, mặc dù bệnh có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai.
Viêm amiđan
Viêm amidan, là một bệnh nhiễm trùng thông thường đi kèm với triệu chứng sưng các tuyến ở họng. Amiđan là một phần của hệ miễn dịch, nằm ở thành sau họng, có vai trò như người gác cổng, ngăn vi khuẩn, vi rút xâm nhập vào đường hô hấp. Một loạt các vi-rút và vi khuẩn có thể gây ra tình trạng viêm amiđan, bao gồm adenovirus, cytomegalovirus, virus Epstein-Barr, virus herpes simplex và liên cầu nhóm A; trong đó virus gây ra 70 đến 85% số trường hợp viêm amiđan. Các dấu hiệu và triệu chứng điển hình bao gồm sốt, sưng amiđan, nuốt đau, giọng khàn, hơi thở hôi, khó chịu và đau, sưng hạch bạch huyết.
Các bệnh nhiễm trùng khác
Nhiễm trùng các cấu trúc khác của vùng đầu và cổ cũng có thể dẫn đến sưng hạch bạch huyết ở vùng cổ họng. Viêm tai, da đầu, tuyến nước bọt, miệng, răng, viêm da mặt và cổ có thể gây ra một hoặc nhiều tuyến bị sưng ở vùng cổ họng.
Một số bệnh nhiễm trùng toàn thân cũng có thể khiến các tuyến ở cổ họng bị sưng. Ví dụ, bệnh bạch cầu đơn nhân truyền nhiễm là một căn bệnh do virus gây ra bởi virus Epstein-Barr. Các triệu chứng điển hình bao gồm sưng các tuyến ở cổ, kèm theo sốt, đau họng và mệt mỏi, có thể kéo dài trong nhiều tháng. Các bệnh nhiễm trùng hệ thống khác thường khiến các tuyến ở cổ bị sưng bao gồm HIV cấp tính, cytomegalovirus và toxoplasmosis.

Lymphoma và bệnh bạch cầu
Lymphoma và bệnh bạch cầu là hai loại ung thư liên quan đến các tế bào lympho. Bệnh bạch cầu lympho cấp tính và mãn tính phát sinh từ các tế bào ung thư trong tủy xương. U lympho có nguồn gốc từ các tế bào ung thư trong các hạch bạch huyết hoặc các mô bạch huyết khác trong cơ thể. Bệnh bạch cầu và u lympho thường gây sưng hạch bạch huyết có thể bao gồm cả những hạch ở cổ. Không giống như các hạch bạch huyết sưng kết hợp với viêm họng và viêm amiđan, sưng trong bệnh bạch cầu và ung thư hạch thường không đau và có thể ảnh hưởng đến các hạch bạch huyết trên khắp cơ thể.
Ngoài ra, trong trường hợp ung thư, các hạch sưng lên thường cứng thay vì sưng và có tính đàn hồi như các loại sưng hạch thông thường.
Ung thư di căn
Hệ thống bạch huyết thường là con đường để tình trạng ung thư di căn. Khi các tế bào ung thư từ các khối u đi qua hệ bạch huyết, chúng thường bị giữ trong các hạch bạch huyết và nhân lên ở đó. Sự tăng trưởng không kiểm soát của các tế bào ung thư trong các hạch bạch huyết thường gây sưng không đau. Ung thư thường lan đến các hạch bạch huyết của cổ bao gồm ung thư thanh quản, cổ họng, miệng, phổi và vú. Sự lan truyền di căn đến các hạch bạch huyết biểu thị sự tiến triển của ung thư. Với ung thư vú và ung thư phổi, lan đến các hạch bạch huyết của cổ cho thấy bệnh đang ở giai đoạn nặng.
Cảnh báo và đề phòng
Sưng hạch bạch huyết tạm thời vùng hầu họng xảy ra tương đối phổ biến, thường là do nhiễm trùng virus hoặc vi khuẩn cấp tính. Đây là loại sưng thường rõ ràng trong vòng 2 đến 3 tuần, giảm sau khi tình trạng nhiễm trùng được giải quyết.
Tuy nhiên, sưng các hạch bạch huyết dai dẳng, không rõ nguyên nhân hoặc tiến triển tăng lên cần được khám càng sớm càng tốt. Điều này đặc biệt quan trọng nếu bạn có thể đã tiếp xúc với HIV, hoặc đang bị sốt, giảm cân không có nguyên nhân, dễ bầm tím hoặc các triệu chứng khác.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Tìm hiểu về bệnh viêm amidan
Khi trời trở lạnh, việc đau thần kinh tọa sẽ trở nên vô cùng đau đớn, đôi lúc còn có chuyển biến xấu. Thời tiết lạnh có thể làm các cơ cột sống của bạn co cứng lại, và cơn đau của bạn có thể trầm trọng hơn do áp suất khí quyển và căng thẳng thể chất. May mắn thay, có những bước bạn có thể thực hiện để giúp giảm đau thần kinh tọa.
Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.
Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.
Các bậc cha mẹ luôn muốn điều tốt nhất cho con cái của mình. Đó là lý do tại sao rất nhiều bậc cha mẹ phải vật lộn với những lựa chọn nuôi dạy con. Và xét cho cùng, chúng ta cũng chỉ là con người, việc cảm thấy bực bội với con cái là điều bình thường, đặc biệt là khi chúng cư xử không đúng mực. Nhưng cách bạn thể hiện sự bực bội và giải quyết tình huống có thể ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách và sức khỏe lâu dài của trẻ. Cùng đọc tiếp để tìm hiểu xem các nghiên cứu lâm sàng đã phát hiện ra về tác động lâu dài của việc la mắng đối với trẻ em!
Rối loạn nội tiết có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, cân nặng, chu kỳ kinh nguyệt và tâm trạng. Bên cạnh điều trị y khoa, một số loại trà được nghiên cứu cho thấy có thể hỗ trợ điều hòa hormone ở mức độ nhất định.