Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Các biện pháp phục hồi chức năng trong điều trị bỏng

Đối với bệnh nhân bỏng, đặc biệt bỏng nặng, phải tháo cụt chi, hay bị sẹo lồi, sẹo phì đại... thì nỗi đau về thể xác chỉ chiếm một phần nhỏ trong sự tổn thương về tâm hồn và tinh thần.

Giúp họ vượt qua thời kỳ khủng hoảng, thích nghi với tổn thương mới trên cơ thể và góp phần đưa họ trở về với cuộc sống là công việc mà các thầy thuốc chuyên ngành phục hồi chức năng đang thực hiện.

Đối tượng nào được thực hiện phục hồi chức năng trong bỏng?

BS. Nguyễn Mạnh Hùng - Chủ nhiệm Khoa Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng - Viện Bỏng Quốc gia nhấn mạnh, trong điều trị bỏng, phục hồi chức năng được thực hiện với tất cả các bệnh nhân bỏng, với các diện tích bỏng khác nhau. Có những trường hợp bỏng chỉ ở ngón 3, ngón 4 trên bàn tay bị sẹo co kéo, ngón tay gấp vào trong. Nếu được điều trị phục hồi chức năng sớm thì có thể khôi phục được chức năng của ngón tay và bàn tay này. Tuy nhiên, nếu không được thực hiện phục hồi chức năng thì ngón tay sẽ bị co kéo và không khôi phục được chức năng vốn có của nó. Đối với các trường hợp nặng hơn như bỏng diện rộng, bỏng sâu, đặc biệt là bỏng ở đầu, mặt, cổ, ở chi thể... thì phục hồi chức năng lại càng cần thiết bởi nếu không được thực hiện, sẹo có thể bị phì đại, trở thành sẹo co kéo, sẹo xấu gây mất thẩm mỹ và mất chức năng do cơ bị teo và cứng khớp.

Biện pháp phục hồi chức năng trong bỏng là gì?

BS. Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, trong lĩnh vực phục hồi chức năng, hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân bỏng có rất nhiều phương pháp. Tùy thuộc vào tình trạng tổn thương của bệnh nhân mà có những phương pháp điều trị thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Đối với sẹo vùng mặt: Có thể sử dụng băng thun trong điều kiện sẹo mới, có thể sử dụng tia hồng ngoại, phương pháp paraphin, chườm nóng, làm mềm sẹo, cũng có thể sử dụng phương pháp siêu âm, sử dụng thuốc làm giảm co cứng sẹo, giảm phù nề và sẹo co kéo. Đối với sẹo ở tai có thể điều trị bằng phương pháp laser. Đối với sẹo ở mắt, nếu chưa mổ được thì sử dụng thuốc chống viêm kết giác mạc để mổ tạo hình, hay nếu sẹo ở cổ có thể sử dụng nẹp cổ để cố định, người bệnh phải hạn chế há miệng, mũi, mắt để sẹo không bị co kéo đồng thời được dán silicon.

Đối với các sẹo ngứa: Có thể do cơ địa, do sẹo bị co kéo gây rối loạn cảm giác, sẹo thiếu dinh dưỡng, tuần hoàn lại tiếp xúc với môi trường bên ngoài dễ gây hiện tượng viêm da, phải sử dụng thuốc giảm ngứa. Bên cạnh đó, sẹo ngứa cũng có thể do việc sử dụng băng thun, băng cao su không được vệ sinh tốt nên biện pháp khắc phục là vệ sinh nẹp, băng thun sạch sẽ kết hợp với điều trị bằng thuốc chống viêm da.

Đối với sẹo phì đại: Người bệnh sẽ được phẫu thuật tạo hình kết hợp với đặt nẹp, băng thun và tập vận động. Nếu sẹo phì đại ở mặt, cổ cần được dán silicon, ở ngón tay được băng coban nhằm chống dính các ngón, khi tập gấp duỗi ngón tay sẽ được tháo băng nhưng khi tập xong phải băng lại ngay.

Đối với sẹo lồi: Có thể không do bỏng, được sử dụng một số biện pháp như siêu âm, sử dụng tia hồng ngoại, chườm nóng, xoa day sẹo làm cho sẹo mềm mại, đỡ đau, ngứa...

Đối với sẹo co kéo: Người bệnh có cảm giác đau đớn, khó thực hiện các hoạt động bình thường do đó xoa day sẹo kết hợp với băng thun, tập vận động chủ động và thụ động là biện pháp hết sức cần thiết nhằm giảm sự đau đớn và hỗ trợ vận động cho người bệnh.

Những bệnh nhân bị bỏng vùng ngực, nhất là bỏng diện rộng thường bị sẹo co kéo, gây cản trở hô hấp cần được tập thở, tập ho, khạc nhằm cải thiện chức năng hô hấp. Với người bệnh bỏng vùng bụng, sẹo làm giảm nhu động ruột thì biện pháp chủ yếu là xoa bóp khu đại tràng giúp người bệnh đại tiểu tiện dễ dàng.

Đối với người bệnh bị tháo khớp hay cắt cụt chi thì quá trình chăm sóc mỏm cụt là một vấn đề rất được quan tâm vì nếu không được chăm sóc tốt bằng xoa bóp, băng thun sẽ làm cho vết sẹo lâu lành, mỏm cụt bị biến dạng, hình thành sẹo lồi, sẹo co kéo, gây ra tình trạng rối loạn cảm giác như đau nhức mỏm cụt, không những thế, việc chăm sóc không tốt còn khiến cho mỏm cụt không thon chắc, khó khăn cho quá trình lắp chi giả.

Khi đó, người bệnh phải chịu thêm sự đau đớn và tốn kém thời gian để chỉnh sửa lại mỏm cụt bảo đảm sẹo được mềm mại, không lồi, không dày dính, thon chắc tạo điều kiện cho chi giả được lắp dễ dàng.

Trong thời gian tới, Viện Bỏng Quốc gia sẽ đầu tư, nâng cấp trang thiết bị cho bệnh nhân phục hồi chức năng với dàn tập đa năng, bàn tập 5 khúc giúp người bệnh tập cổ, chi thể, vai, chân, lưng cùng hệ thống ròng rọc kéo và bài tập tổng hợp giúp người bệnh khôi phục tối đa chức năng của chi thể. Bên cạnh đó, bộ thước đo khớp, đặc biệt với các khớp nhỏ như khớp bàn ngón tay, bàn ngón chân sẽ giúp người bệnh nhận thấy được hiệu quả của các phương pháp phục hồi chức năng và có thêm quyết tâm để luyện tập.

Lời khuyên với người bệnh phục hồi chức năng

Khi thực hiện phục hồi chức năng phải theo quy trình nhất định, khi người bệnh  luyện tập xong phải được băng thun, đặt nẹp cố định để sẹo không bị co kéo, không bị phì đại bởi đặc tính của da là sự đàn hồi cao, nếu không được cố định, phần da bị sẹo đã được luyện tập lại trở về vị trí ban đầu. Không chỉ thế, quá trình luyện tập phục hồi không những được thực hiện ở bệnh viện mà còn được tiếp tục thực hiện tại gia đình nhưng người bệnh phải tuân thủ tuyệt đối chỉ định của thầy thuốc và tái khám theo định kỳ, đặc biệt khi có biểu hiện bất thường như trật khớp, sẹo co kéo mạnh..., gia đình cần đưa người bệnh đến khám lại ngay phòng tránh biến chứng có thể xảy ra.

Theo HVQY
Bình luận
Tin mới
  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

Xem thêm