Thuốc với dạ dày, những điều nên biết
Thức ăn cần được acid dạ dày phân hủy lớp màng bao quanh, tạo điều kiện để các men tiêu hóa trong dạ dày, ruột, tụy ngấm vào và tiêu hóa thức ăn. Nếu không có acid thì lớp màng khó bị tiêu hủy và các men này khó lách được vào. Trong khi có bệnh và uống thuốc, chúng ta vẫn cần phải ăn, vậy chúng có ảnh hưởng tới nhau như thế nào?
Nồng độ trong máu của một loại thuốc uống phụ thuộc vào mức hấp thu của nó qua đường tiêu hóa. Một số yếu tố của dạ dày như pH dịch vị, dạ dày rỗng hoặc đầy thức ăn... có ảnh hưởng tới quá trình hấp thu thuốc làm tăng hoặc giảm hiệu suất điều trị. Dạ dày rỗng, hay khi chứa nhiều thức ăn có độ pH khác nhau: khi no pH tăng đến 3 hoặc hơn nữa tùy thuộc chế độ ăn, nhưng khi đói dịch dạ dày sẽ tăng tính acid độ pH chỉ còn khoảng 1,7-1,8, thuốc sẽ thay đổi hấp thu tùy theo pH.
Mặt khác, dạ dày khi no hay đói cũng có ảnh hưởng đến tốc độ di chuyển của thuốc. Uống thuốc vào lúc đói chỉ cần 10 - 30 phút là thuốc từ dạ dày xuống ruột, nhưng nếu uống vào lúc no tốc độ di chuyển thuốc sẽ chậm, phải mất 1-4 giờ mới qua khỏi dạ dày. Vậy, nếu uống thuốc khi ăn no thuốc sẽ tồn lâu ở dạ dày, hậu quả tốt hay xấu còn tùy theo từng loại thuốc điều trị.
Những thuốc cần uống lúc no
Đó là các loại thuốc mà kích thước hạt chịu ảnh hưởng cùng với độ hấp thu như nitrofurantoin (điều trị nhiễm khuẩn cấp hoặc mạn tính ở niệu đạo), griseofulvin (thuốc kháng sinh điều trị các loại nấm ngoài da), spironolacton (điều trị xơ gan cổ trướng, phù nề)... nên uống trong bữa ăn thì dịch dạ dày và thức ăn sẽ nhào nặn giúp các hạt thuốc trộn đều làm tăng độ ẩm và dễ hấp thu.
Với các thuốc tan mạnh trong dầu mỡ như sulfamid, griseofulvin, phenytoin (trị động kinh và các cơn tâm thần vận động)... thì nên uống trong bữa ăn giàu chất béo. Phần lớn các thuốc kháng nấm ketoconazol nên uống trong bữa ăn để giảm bớt các hiện tượng không dung nạp đường tiêu hóa và cải thiện sự hấp thu, nhưng cần tránh uống rượu.
Các vitamin nhất là nhóm hòa tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K thì nên uống trong bữa ăn hoặc ngay sau bữa ăn để dầu mỡ có trong thức ăn giúp vitamin dễ hòa tan, cơ thể hấp thu tốt.
Các thuốc chống viêm hạ nhiệt giảm đau không steroid: aspirin, ibuprofen, ketoprofen, diclofenac, kèm với nguy cơ loét dạ dày, cần uống thuốc vào bữa ăn và không được uống rượu.
Các thuốc chống sốt rét như chloroquin (niraquin), proguanil (paludein), mefloquin (lariam): uống vào cuối bữa ăn để cải thiện sự dung nạp đường tiêu hóa.
Những thuốc cần uống xa bữa ăn
Thuốc kháng sinh tetracyclin dễ tạo phức với ion canxi hóa trị 2 (Ca 2+ trong thức ăn nhất là sữa), hay các cation kim loại khác có trong thức ăn làm biến đổi tính chất của thuốc mất tác dụng kháng sinh. Bởi vậy, cần uống tetracyclin và các biệt dược của nó cách xa bữa ăn (trước hoặc sau bữa ăn ít nhất 1,5 - 2 giờ).
Với thuốc kháng sinh ampicilin cũng dễ bị ức chế bởi thức ăn, không nên uống ngay sau bữa ăn; tuy nhiên, amoxycilin (chỉ định như ampicilin) thì không bị ức chế bởi thức ăn. Với đa số các kháng sinh nhóm macrolid (erythromycin, spiramycin, josamycin…) sự hấp thu sẽ tốt hơn nếu dùng xa bữa ăn và nên uống vào lúc đói; đối với erythromycin nên uống ngay trước bữa ăn. Cefalexin (ceporexin, reforal), oxacilin phải uống xa bữa ăn để hấp thu tốt hơn.
Những thuốc có tác dụng phụ gây nôn do cơ chế trung ương như opiat, thuốc chống ung thư... thì cần phải uống xa bữa ăn.
Thuốc nhuận tràng làm trơn (dầu paraffin) nên uống một lần vào buổi sáng, xa các bữa ăn để tránh cản trở hấp thu các vitamin tan trong chất béo (A, D, E, K).
Những thuốc không liên quan với bữa ăn
Đó là những thuốc không bị thức ăn làm ảnh hưởng đến hấp thu hoặc phá hỏng, có thể uống vào lúc nào cũng được. Thí dụ, với các kháng sinh nhóm quinolon (norfloxacin, ofloxacin, ciprofloxacin…) có thể uống trong hoặc ngoài bữa ăn, sự hấp thu không bị ảnh hưởng.
Amoxycilin (clamoxil) cũng vậy, có thể uống trong khi ăn hoặc ngoài bữa ăn. Thuốc tadalafil (chữa rối loạn cương dương) sự hấp thu thuốc không liên quan tới bữa ăn và thời điểm dùng thuốc, có thể uống tùy ý. Các thuốc tránh thai dạng uống có thể uống trong hoặc ngoài bữa ăn cũng được, nhưng cần phải uống vào giờ cố định sáng hoặc tối.
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và đồ uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Không tập thể dục hay tập không đủ có thể gây ra nhiều tác dụng phụ cho cơ thể, bao gồm tăng cân, giảm mức năng lượng và tăng nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính...
Trong những kỳ nghỉ dài ngày, đặc biệt là dịp Tết Nguyên Đán, các gia đình thường có tâm lý chiều chuộng con trẻ bằng những món bánh kẹo và nước ngọt có ga đầy hấp dẫn để tăng thêm không khí vui tươi, sum vầy. Những thức uống rực rỡ sắc màu với vị ngọt đậm đà này dễ dàng mang lại cảm giác phấn khích tức thì, khiến trẻ nhỏ đặc biệt yêu thích và coi đó như một phần không thể thiếu của sự hưởng thụ.
Vào những ngày trời nồm, độ ẩm không khí vọt lên trên 95%, vi khuẩn và nấm mốc bắt đầu sinh sôi khắp nơi. Vì mũi và họng trực tiếp hít thở bầu không khí vào cơ thể, nên đây cũng là nơi dễ bị virus tấn công, dẫn đến viêm mũi dị ứng hay viêm xoang. Viện Y học ứng dụng Việt Nam khuyến nghị cách đơn giản nhất để bảo vệ cả nhà chính là chủ động vệ sinh mũi họng hằng ngày. Việc này giúp làm sạch đường thở và tạo ra một "lớp màng bảo vệ" vững chắc trước các mầm bệnh bên ngoài.
Sau tuổi 40, nguy cơ đau tim tăng do thay đổi sinh lý, lối sống và áp lực cuộc sống. Tuy nhiên, chỉ với những điều chỉnh nhỏ mỗi ngày, bạn hoàn toàn có thể bảo vệ trái tim, kiểm soát huyết áp, cholesterol và duy trì sức khỏe tim mạch lâu dài.
Kính gửi: Quý Đối tác, Quý Khách hàng cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Rối loạn tiêu hóa, chướng bụng và khó tiêu không chỉ gây cảm giác khó chịu nhất thời mà còn là dấu hiệu của việc hệ thống chuyển hóa đang bị quá tải.
Không ít phụ huynh than phiền con ăn rất khỏe, bữa nào cũng đầy bát cơm thịt nhưng vẫn chậm lớn, hay ốm vặt. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, mấu chốt không nằm ở số lượng trẻ ăn vào, mà ở sự cân bằng tỷ lệ vàng giữa 4 nhóm chất.